Big 4 ngân hàng quốc doanh dự kiến bơm gần 800 nghìn tỷ đồng ra nền kinh tế

(TBTCO) - Ước tính sơ bộ trong năm nay, 04 "ông lớn" ngân hàng quốc doanh bơm thêm khoảng 800 nghìn tỷ đồng ra nền kinh tế. Bên cạnh con số tăng trưởng tín dụng tích cực, bức tranh nợ xấu và chất lượng tài sản vẫn còn nhiều nỗi lo, các ngân hàng mong muốn có cơ chế xử lý các vướng mắc để thu hồi tối đa nợ xấu phát sinh.
aa

Bức tranh kinh doanh năm 2024 của 04 ngân hàng quốc doanh gồm BIDV, Vietcombank, Agribank và VietinBank được phác hoạ sơ bộ tại hội nghị toàn ngành ngân hàng mới đây.

Bám đuổi sát nút về tăng trưởng tín dụng

Ông Phạm Toàn Vượng - Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, đối với hoạt động cho vay, huy động vốn, ngân hàng bám sát chủ trương của Chính phủ, định hướng điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

Năm 2024, Agribank triển khai nhiều giải pháp hết sức linh hoạt để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng, nhất là khu vực “tam nông”, đồng thời kiểm soát chất lượng tín dụng để hạn chế phát sinh nợ xấu. Agribank cũng chủ động triển khai kịp thời các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, NHNN.

Big 4 ngân hàng quốc doanh dự kiến bơm gần 800 nghìn tỷ đồng ra nền kinh tế
Nhóm 4 "ông lớn" quốc doanh dự kiến bơm gần 800.000 tỷ đồng ra nền kinh tế. Ảnh TL

"Hiện nay, lãi suất cho vay của bình quân Agribank giảm gần 2% so đầu năm và thuộc nhóm thấp trên thị trường. Bên cạnh đó, Agribank dành nguồn lực chủ động triển khai nhiều chương trình, gói tín dụng đặc thù, ưu đãi lãi suất theo từng đối tượng khách hàng với lãi suất thấp hơn từ 2-3%/năm so với lãi suất thông thường" - ông Vượng nói.

Nhờ vậy, kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh của Agribank năm 2024 tích cực, năm sau tốt hơn năm trước, dự kiến đến ngày 31/12, tổng tài sản tăng 7,9% so với năm 2023; nguồn vốn đạt 2 triệu tỷ đồng, tăng 6% so với đầu năm. Dư nợ đạt trên 1,7 triệu tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2023, tương ứng tăng gần 170 nghìn tỷ đồng.

Cùng với đó, lợi nhuận trước thuế Agribank tăng gần 8% so với năm 2023, nộp ngân sách nhà nước giai đoạn 2021-2024 đạt trên 43 nghìn tỷ đồng, dự kiến đến hết năm 2025, nộp trên 58,5 nghìn tỷ đồng.

Như vậy, tính đến cuối năm 2024, các ngân hàng big 4 tăng trưởng tín dụng dao động từ 11-14,8% so với cuối năm ngoái, nâng tổng dư nợ tín dụng nhóm các ngân hàng quốc doanh lên khoảng 6,8 triệu tỷ đồng. Ước tính sơ bộ các "ông lớn" cho vay thêm gần 800 nghìn tỷ đồng trong năm nay.

Cũng theo ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), ngân hàng triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ nền kinh tế, khơi thông nguồn vốn, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Đến nay, Vietcombank cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch do NHNN và đại hội đồng cổ đông giao. Cụ thể, dự kiến đến cuối năm 2024, tăng trưởng tín dụng ở mức 13% đạt quy mô trên 1,4 triệu tỷ đồng (tương ứng tăng trên 160 nghìn tỷ đồng); tổng tài sản đạt gần 2 triệu tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu kiểm soát dưới 1%...

Ông Phan Đức Tú, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho biết, dự kiến kết thúc năm 2024 ngân hàng sẽ hoàn thành toàn diện, đồng bộ các mục tiêu, chỉ tiêu của NHNN và đại hội cổ đông giao. Vốn tín dụng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN.

Theo đó, quy mô tổng tài sản BIDV sẽ vượt mốc 2,6 triệu tỷ đồng; dư nợ tín dụng đạt gần 2 triệu tỷ đồng, tăng trưởng khoảng 14%, tương ứng tăng gần 250 nghìn tỷ đồng.

Tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank), ông Trần Minh Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị ngân hàng này cho biết, tính đến hết tháng 11/2024, tổng tài sản của ngân hàng ước đạt hơn 2,3 triệu tỷ đồng, tăng 14,7% so với năm 2023. “Tín dụng tăng trưởng 14,2% so với năm 2023 (đến ngày 10/12 tăng 14,8%); nguồn vốn huy động đạt gần 1,7 triệu tỷ đồng, tăng 11,3% so với cuối năm 2023” - ông Bình nêu rõ.

Như vậy, theo tính toán, tổng dư nợ cho vay của VietinBank ước đến hết ngày 10/12 đạt trên 1,7 triệu tỷ đồng, tương ứng với hơn 220 nghìn tỷ đồng được bơm ra nền kinh tế.

Tháo gỡ vướng mắc, thu hồi tối đa nợ xấu

Cũng trong năm vừa qua, các nhà băng tăng cường kiểm soát chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu. Tại MB, tỷ lệ nợ xấu tập đoàn nhỏ hơn hoặc bằng 1,7%; riêng ngân hàng nhỏ hơn hoặc bằng 1,5%, nợ xấu được trích lập dự phòng đầy đủ. Các chỉ số an toàn tuân thủ đảm bảo theo quy định.

Với Agribank, dự kiến năm 2024 nợ xấu được kiểm soát chặt chẽ, tỷ lệ nợ xấu nội bảng khoảng 1,6%, đảm bảo kế hoạch NHNN giao dưới 2%. Trên cơ sở Quyết định số 689/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt “Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025” và Quyết định số 2526/QĐ-NHNN ngày 29/12/2023 của Thống đốc NHNN về phê duyệt mục tiêu, định hướng, giải pháp và lộ trình thực hiện Phương án cơ cấu lại Agribank gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025, Agribank xây dựng và ban hành Kế hoạch triển khai để thực hiện thống nhất trong toàn hệ thống.

Tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu, nợ tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) chưa xử lý đến 10/12 giảm xuống 3,74% và giảm 2,29% so với cuối năm 2021. Trong năm 2024, tổng nợ xấu xử lý, thu hồi là 41.059 tỷ đồng, thu nợ đã xử lý rủi ro 11.000 tỷ đồng" - Tổng Giám đốc Agribank cho biết.

Big 4 ngân hàng quốc doanh dự kiến bơm gần 800 nghìn tỷ đồng ra nền kinh tế
Giai đoạn 2021 - 2024, Agribank xử lý được gần 138.000 tỷ đồng nợ xấu.

Tính chung giai đoạn 2021 - 2024, Agribank xử lý được gần 138.000 tỷ đồng nợ xấu. Năm 2025, phấn đấu đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng xuống dưới 1% và hoàn thành mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu, nợ bán cho VAMC chưa xử lý về dưới mức 3% vào cuối năm 2025 (phấn đấu khoảng 2,6%).

Agribank sẽ tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp xử lý, thu hồi nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro bằng nhiều biện pháp linh hoạt như xử lý tài sản, khởi kiện, thi hành án, bán nợ theo giá thị trường, phối hợp với VAMC/DATC để xử lý nợ. Cùng với đó, phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt là công an, tòa án, thi hành án các cấp trong xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.

Cũng theo ông Phạm Toàn Vượng, mặc dù triển khai quyết liệt nhiều giải pháp nhưng nợ xấu vẫn có xu hướng tăng trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế và gần đây là tác động của cơn bão số 3, việc thực hiện mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu, nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu xuống dưới 3% gặp rất nhiều thách thức. Vì vậy, lãnh đạo Agribank đề nghị Chính phủ và các cấp có thẩm quyền có cơ chế, quy định phù hợp về xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, hỗ trợ các tổ chức tín dụng về cơ sở pháp lý để xử lý các vướng mắc trong công tác xử lý tài sản để thu hồi tối đa nợ xấu phát sinh./.

Mở cơ chế tăng vốn nhóm ngân hàng quốc doanh

Liên quan đến kiến nghị về bổ sung vốn điều lệ, năm 2023-2024, Agribank được cấp bổ sung 17.100 tỷ đồng vốn điều lệ song chưa đáp ứng được nhu cầu tín dụng ngày càng cao, đặc biệt lĩnh vực nông nghiệp nông thôn và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn.

"Nếu dư nợ hàng năm tăng thêm 200.000 tỷ đồng, Agribank cần bổ sung thêm 15.000-17.000 tỷ đồng vốn tự có. Vì vậy, các cấp có thẩm quyền có cơ chế riêng cho các ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước, trong đó xem xét cấp bổ sung vốn điều lệ từ lợi nhuận thực nộp hàng năm của Agribank, tối thiểu 10.000 tỷ đồng/năm, bắt đầu từ năm 2025" - Tổng Giám đốc Agribank đề xuất.

Ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Vietcombank cũng kiến nghị cần nhanh chóng củng cố các công cụ an toàn vi mô thông qua hoàn tất áp dụng Basel II nâng cao và đẩy nhanh áp dụng Basel III. Để cải thiện các hệ số an toàn và khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, Chính phủ xem xét ban hành cơ chế cho phép các ngân hàng thương mại nhà nước được tăng vốn điều lệ từ lợi nhuận để lại hàng năm.

Được biết, do vừa được chấp thuận tăng vốn điều lệ thêm 27.666 tỷ đồng nên Vietcombank trở lại ngôi vương về vốn điều lệ toàn hệ thống (83.557 tỷ đồng). Đứng kế tiếp là BIDV với vốn điều lệ lên 68.975,3 tỷ đồng sau khi dự kiến phát hành tối đa gần 1,2 tỷ cổ phiếu phổ thông chi trả cổ tức với tỷ lệ 21% cho cổ đông, thời gian phát hành từ quý IV/2024 đến quý I/2025. MB cũng nâng vốn điều lệ lên mức 53.063 tỷ đồng giữa năm 2024. Xếp cuối bảng là Agribank tăng vốn lên 51.639 tỷ đồng tháng 10 vừa qua./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Gỡ "nút thắt", mở rộng dòng vốn cho thuê tài chính vào y tế tư nhân

Gỡ "nút thắt", mở rộng dòng vốn cho thuê tài chính vào y tế tư nhân

(TBTCO) - Với khả năng cung cấp vốn trung và dài hạn, tài trợ tới 100% giá trị thiết bị và dùng dòng tiền khai thác để trả tiền thuê, cho thuê tài chính có nhiều lợi thế với y tế tư nhân. Tuy nhiên, dư nợ cho thuê tài chính thiết bị y tế mới khoảng 1.000 tỷ đồng, đặt ra yêu cầu tháo gỡ “nút thắt”, có chính sách đặc thù để mở rộng kênh vốn này.
Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá” tại Lotte Mall Tây Hồ, Hà Nội. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, chương trình giúp cha mẹ và trẻ nhận diện những giá trị cần gìn giữ, từ đó chủ động chuẩn bị cho tương lai.
Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

(TBTCO) - Chất lượng tư vấn ban đầu có vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu bảo vệ và khả năng tài chính của khách hàng có thể thay đổi trong thời gian tham gia bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, rà soát hợp đồng định kỳ cần được chú trọng trong dịch vụ sau bán hàng, giúp người tham gia hiểu rõ quyền lợi và cân nhắc những điều chỉnh phù hợp.
Bảo Việt -  Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

(TBTCO) - BVBank dự kiến chào bán 320,41 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động hơn 3.204 tỷ đồng, qua đó, có thể nâng vốn điều lệ thêm 50% lên hơn 9.612 tỷ đồng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh lợi nhuận 6 tháng tăng mạnh, song chất lượng tài sản chịu áp lực.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 146,500
Hà Nội - PNJ 143,500 146,500
Đà Nẵng - PNJ 143,500 146,500
Miền Tây - PNJ 143,500 146,500
Tây Nguyên - PNJ 143,500 146,500
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 146,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 14,650
Miếng SJC Nghệ An 14,350 14,650
Miếng SJC Thái Bình 14,350 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,435 14,652
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,435 14,653
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 145
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 143,564
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 108,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 9,876
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 88,609
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 84,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 60,621
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 1,465
Cập nhật: 17/09/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18002 18276 18855
CAD 18131 18406 19025
CHF 31089 31467 32114
CNY 0 3833 3929
EUR 29359 29580 30663
GBP 34216 34607 35545
HKD 0 3183 3386
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14665 15250
SGD 19875 20157 20729
THB 697 760 813
USD (1,2) 25734 0 0
USD (5,10,20) 25773 0 0
USD (50,100) 25801 25815 26185
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,795 25,795 26,175
USD(1-2-5) 24,764 - -
USD(10-20) 24,764 - -
EUR 29,416 29,440 30,834
JPY 163.06 163.35 173.25
GBP 34,397 34,490 35,683
AUD 18,184 18,250 18,942
CAD 18,296 18,355 19,034
CHF 31,351 31,448 32,379
SGD 19,987 20,049 20,836
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,245 3,255 3,392
KRW 17.51 18.26 19.87
THB 744.86 754.06 807.4
NZD 14,630 14,766 15,207
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,945 4,085
NOK - 2,732 2,832
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,937.59 - 6,710.11
TWD 738.52 - 894.19
SAR - 6,798.41 7,161.28
KWD - 82,348 87,627
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,398 29,516 30,712
GBP 34,354 34,492 35,521
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,158 31,283 32,218
JPY 163.09 163.74 171.72
AUD 18,168 18,241 18,834
SGD 20,038 20,118 20,709
THB 760 763 800
CAD 18,306 18,380 18,970
NZD 14,678 15,221
KRW 18.12 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18185 18285 19207
CAD 18314 18414 19429
CHF 31333 31363 32945
CNY 3816.2 3841.2 3976.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29553 29583 31305
GBP 34518 34568 36326
HKD 0 3305 0
JPY 164.12 164.62 175.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14765 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20037 20167 20890
THB 0 725.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Cập nhật: 17/09/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30