Big 4 ngân hàng quốc doanh dự kiến bơm gần 800 nghìn tỷ đồng ra nền kinh tế

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ước tính sơ bộ trong năm nay, 04 "ông lớn" ngân hàng quốc doanh bơm thêm khoảng 800 nghìn tỷ đồng ra nền kinh tế. Bên cạnh con số tăng trưởng tín dụng tích cực, bức tranh nợ xấu và chất lượng tài sản vẫn còn nhiều nỗi lo, các ngân hàng mong muốn có cơ chế xử lý các vướng mắc để thu hồi tối đa nợ xấu phát sinh.
aa

Bức tranh kinh doanh năm 2024 của 04 ngân hàng quốc doanh gồm BIDV, Vietcombank, Agribank và VietinBank được phác hoạ sơ bộ tại hội nghị toàn ngành ngân hàng mới đây.

Bám đuổi sát nút về tăng trưởng tín dụng

Ông Phạm Toàn Vượng - Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, đối với hoạt động cho vay, huy động vốn, ngân hàng bám sát chủ trương của Chính phủ, định hướng điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

Năm 2024, Agribank triển khai nhiều giải pháp hết sức linh hoạt để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng, nhất là khu vực “tam nông”, đồng thời kiểm soát chất lượng tín dụng để hạn chế phát sinh nợ xấu. Agribank cũng chủ động triển khai kịp thời các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, NHNN.

Big 4 ngân hàng quốc doanh dự kiến bơm gần 800 nghìn tỷ đồng ra nền kinh tế
Nhóm 4 "ông lớn" quốc doanh dự kiến bơm gần 800.000 tỷ đồng ra nền kinh tế. Ảnh TL

"Hiện nay, lãi suất cho vay của bình quân Agribank giảm gần 2% so đầu năm và thuộc nhóm thấp trên thị trường. Bên cạnh đó, Agribank dành nguồn lực chủ động triển khai nhiều chương trình, gói tín dụng đặc thù, ưu đãi lãi suất theo từng đối tượng khách hàng với lãi suất thấp hơn từ 2-3%/năm so với lãi suất thông thường" - ông Vượng nói.

Nhờ vậy, kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh của Agribank năm 2024 tích cực, năm sau tốt hơn năm trước, dự kiến đến ngày 31/12, tổng tài sản tăng 7,9% so với năm 2023; nguồn vốn đạt 2 triệu tỷ đồng, tăng 6% so với đầu năm. Dư nợ đạt trên 1,7 triệu tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2023, tương ứng tăng gần 170 nghìn tỷ đồng.

Cùng với đó, lợi nhuận trước thuế Agribank tăng gần 8% so với năm 2023, nộp ngân sách nhà nước giai đoạn 2021-2024 đạt trên 43 nghìn tỷ đồng, dự kiến đến hết năm 2025, nộp trên 58,5 nghìn tỷ đồng.

Như vậy, tính đến cuối năm 2024, các ngân hàng big 4 tăng trưởng tín dụng dao động từ 11-14,8% so với cuối năm ngoái, nâng tổng dư nợ tín dụng nhóm các ngân hàng quốc doanh lên khoảng 6,8 triệu tỷ đồng. Ước tính sơ bộ các "ông lớn" cho vay thêm gần 800 nghìn tỷ đồng trong năm nay.

Cũng theo ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), ngân hàng triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ nền kinh tế, khơi thông nguồn vốn, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Đến nay, Vietcombank cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch do NHNN và đại hội đồng cổ đông giao. Cụ thể, dự kiến đến cuối năm 2024, tăng trưởng tín dụng ở mức 13% đạt quy mô trên 1,4 triệu tỷ đồng (tương ứng tăng trên 160 nghìn tỷ đồng); tổng tài sản đạt gần 2 triệu tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu kiểm soát dưới 1%...

Ông Phan Đức Tú, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho biết, dự kiến kết thúc năm 2024 ngân hàng sẽ hoàn thành toàn diện, đồng bộ các mục tiêu, chỉ tiêu của NHNN và đại hội cổ đông giao. Vốn tín dụng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN.

Theo đó, quy mô tổng tài sản BIDV sẽ vượt mốc 2,6 triệu tỷ đồng; dư nợ tín dụng đạt gần 2 triệu tỷ đồng, tăng trưởng khoảng 14%, tương ứng tăng gần 250 nghìn tỷ đồng.

Tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank), ông Trần Minh Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị ngân hàng này cho biết, tính đến hết tháng 11/2024, tổng tài sản của ngân hàng ước đạt hơn 2,3 triệu tỷ đồng, tăng 14,7% so với năm 2023. “Tín dụng tăng trưởng 14,2% so với năm 2023 (đến ngày 10/12 tăng 14,8%); nguồn vốn huy động đạt gần 1,7 triệu tỷ đồng, tăng 11,3% so với cuối năm 2023” - ông Bình nêu rõ.

Như vậy, theo tính toán, tổng dư nợ cho vay của VietinBank ước đến hết ngày 10/12 đạt trên 1,7 triệu tỷ đồng, tương ứng với hơn 220 nghìn tỷ đồng được bơm ra nền kinh tế.

Tháo gỡ vướng mắc, thu hồi tối đa nợ xấu

Cũng trong năm vừa qua, các nhà băng tăng cường kiểm soát chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu. Tại MB, tỷ lệ nợ xấu tập đoàn nhỏ hơn hoặc bằng 1,7%; riêng ngân hàng nhỏ hơn hoặc bằng 1,5%, nợ xấu được trích lập dự phòng đầy đủ. Các chỉ số an toàn tuân thủ đảm bảo theo quy định.

Với Agribank, dự kiến năm 2024 nợ xấu được kiểm soát chặt chẽ, tỷ lệ nợ xấu nội bảng khoảng 1,6%, đảm bảo kế hoạch NHNN giao dưới 2%. Trên cơ sở Quyết định số 689/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt “Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025” và Quyết định số 2526/QĐ-NHNN ngày 29/12/2023 của Thống đốc NHNN về phê duyệt mục tiêu, định hướng, giải pháp và lộ trình thực hiện Phương án cơ cấu lại Agribank gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025, Agribank xây dựng và ban hành Kế hoạch triển khai để thực hiện thống nhất trong toàn hệ thống.

Tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu, nợ tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) chưa xử lý đến 10/12 giảm xuống 3,74% và giảm 2,29% so với cuối năm 2021. Trong năm 2024, tổng nợ xấu xử lý, thu hồi là 41.059 tỷ đồng, thu nợ đã xử lý rủi ro 11.000 tỷ đồng" - Tổng Giám đốc Agribank cho biết.

Big 4 ngân hàng quốc doanh dự kiến bơm gần 800 nghìn tỷ đồng ra nền kinh tế
Giai đoạn 2021 - 2024, Agribank xử lý được gần 138.000 tỷ đồng nợ xấu.

Tính chung giai đoạn 2021 - 2024, Agribank xử lý được gần 138.000 tỷ đồng nợ xấu. Năm 2025, phấn đấu đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng xuống dưới 1% và hoàn thành mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu, nợ bán cho VAMC chưa xử lý về dưới mức 3% vào cuối năm 2025 (phấn đấu khoảng 2,6%).

Agribank sẽ tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp xử lý, thu hồi nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro bằng nhiều biện pháp linh hoạt như xử lý tài sản, khởi kiện, thi hành án, bán nợ theo giá thị trường, phối hợp với VAMC/DATC để xử lý nợ. Cùng với đó, phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt là công an, tòa án, thi hành án các cấp trong xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.

Cũng theo ông Phạm Toàn Vượng, mặc dù triển khai quyết liệt nhiều giải pháp nhưng nợ xấu vẫn có xu hướng tăng trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế và gần đây là tác động của cơn bão số 3, việc thực hiện mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu, nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu xuống dưới 3% gặp rất nhiều thách thức. Vì vậy, lãnh đạo Agribank đề nghị Chính phủ và các cấp có thẩm quyền có cơ chế, quy định phù hợp về xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, hỗ trợ các tổ chức tín dụng về cơ sở pháp lý để xử lý các vướng mắc trong công tác xử lý tài sản để thu hồi tối đa nợ xấu phát sinh./.

Mở cơ chế tăng vốn nhóm ngân hàng quốc doanh

Liên quan đến kiến nghị về bổ sung vốn điều lệ, năm 2023-2024, Agribank được cấp bổ sung 17.100 tỷ đồng vốn điều lệ song chưa đáp ứng được nhu cầu tín dụng ngày càng cao, đặc biệt lĩnh vực nông nghiệp nông thôn và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn.

"Nếu dư nợ hàng năm tăng thêm 200.000 tỷ đồng, Agribank cần bổ sung thêm 15.000-17.000 tỷ đồng vốn tự có. Vì vậy, các cấp có thẩm quyền có cơ chế riêng cho các ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước, trong đó xem xét cấp bổ sung vốn điều lệ từ lợi nhuận thực nộp hàng năm của Agribank, tối thiểu 10.000 tỷ đồng/năm, bắt đầu từ năm 2025" - Tổng Giám đốc Agribank đề xuất.

Ông Nguyễn Thanh Tùng - Chủ tịch Vietcombank cũng kiến nghị cần nhanh chóng củng cố các công cụ an toàn vi mô thông qua hoàn tất áp dụng Basel II nâng cao và đẩy nhanh áp dụng Basel III. Để cải thiện các hệ số an toàn và khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, Chính phủ xem xét ban hành cơ chế cho phép các ngân hàng thương mại nhà nước được tăng vốn điều lệ từ lợi nhuận để lại hàng năm.

Được biết, do vừa được chấp thuận tăng vốn điều lệ thêm 27.666 tỷ đồng nên Vietcombank trở lại ngôi vương về vốn điều lệ toàn hệ thống (83.557 tỷ đồng). Đứng kế tiếp là BIDV với vốn điều lệ lên 68.975,3 tỷ đồng sau khi dự kiến phát hành tối đa gần 1,2 tỷ cổ phiếu phổ thông chi trả cổ tức với tỷ lệ 21% cho cổ đông, thời gian phát hành từ quý IV/2024 đến quý I/2025. MB cũng nâng vốn điều lệ lên mức 53.063 tỷ đồng giữa năm 2024. Xếp cuối bảng là Agribank tăng vốn lên 51.639 tỷ đồng tháng 10 vừa qua./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Kim TT/AVPL 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 ▼50K 16,400 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 ▼50K 16,350 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 ▼50K 16,330 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NL 99.90 15,050 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100 ▼50K
Trang sức 99.9 15,690 ▼50K 16,390 ▼50K
Trang sức 99.99 15,700 ▼50K 16,400 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 ▼1463K 16,502 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 ▼1463K 16,503 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 ▼5K 1,648 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 ▼5K 1,649 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 ▼5K 1,633 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 ▼495K 161,683 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 ▼375K 122,637 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 ▼340K 111,205 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 ▼305K 99,773 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 ▼292K 95,363 ▼292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 ▼208K 68,253 ▼208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cập nhật: 13/05/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18551 18828 19403
CAD 18700 18978 19593
CHF 33044 33430 34065
CNY 0 3840 3931
EUR 30211 30485 31509
GBP 34813 35206 36136
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15313 15898
SGD 20161 20444 20971
THB 729 793 846
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,129 26,129 26,379
USD(1-2-5) 25,084 - -
USD(10-20) 25,084 - -
EUR 30,437 30,461 31,754
JPY 162.88 163.17 172.16
GBP 35,110 35,205 36,237
AUD 18,761 18,829 19,443
CAD 18,916 18,977 19,578
CHF 33,401 33,505 34,316
SGD 20,328 20,391 21,088
CNY - 3,814 3,940
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.57
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,792 2,876
DKK - 4,074 4,196
NOK - 2,821 2,911
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.16 - 7,058.83
TWD 756.46 - 911.22
SAR - 6,919.14 7,251.11
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,336 30,458 31,641
GBP 35,008 35,149 36,159
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,154 33,287 34,228
JPY 163.02 163.67 171.09
AUD 18,697 18,772 19,364
SGD 20,344 20,426 21,011
THB 793 796 831
CAD 18,876 18,952 19,526
NZD 15,431 15,967
KRW 16.86 18.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26379
AUD 18729 18829 19752
CAD 18880 18980 19994
CHF 33286 33316 34894
CNY 3820.1 3845.1 3980.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30389 30419 32144
GBP 35108 35158 36911
HKD 0 3355 0
JPY 163.39 163.89 174.43
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15417 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20317 20447 21180
THB 0 759 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,379
USD20 26,176 26,226 26,379
USD1 26,176 26,226 26,379
AUD 18,761 18,861 19,969
EUR 30,559 30,559 31,968
CAD 18,817 18,917 20,223
SGD 20,403 20,553 21,520
JPY 163.96 165.46 170.02
GBP 35,036 35,386 36,248
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/05/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80