Cam kết trách nhiệm xã hội của các ngân hàng còn mờ nhạt

Dương An
Các cam kết công khai về chính sách môi trường, quản trị và xã hội (ESG) của các ngân hàng thương mại Việt Nam còn rất ít ỏi, đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách về các yếu tố ESG dựa trên tiêu chuẩn và công ước quốc tế.
aa

TM

Nhóm Sáng kiến Fair Finance Việt Nam (FFV) mới đây đã công bố báo cáo về chính sách môi trường, xã hội và quản trị (ESG) của 10 ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam.

Theo báo cáo, mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã có các quy định, chính sách và văn bản đề cập đến các chính sách về môi trường (E), xã hội (S) và quản trị (G), nhìn chung, các cam kết chính sách công khai về ESG của 10 ngân hàng này mới mức khởi đầu. Tính trung bình tiêu chí E (Environment - môi trường) của 10 ngân hàng mới đạt 0,3/10, S (Social - Xã hội) đạt 1,3/10 và G (Governance - quản trị) đạt 1,6/10 điểm.

Báo cáo cũng đã chỉ ra, hầu hết các NHTM chưa công bố công khai bất kỳ cam kết nào trong hai chủ đề biến đổi khí hậu và thiên nhiên. Điểm cam kết về của 10 NHTM về sản xuất năng lượng đạt 0,5/10, về biến đổi khí hậu đạt 0,1/10 và về thiên nhiên đạt 0,1/10.

Tương tự, cam kết chính sách về xã hội (S) cũng rất mờ nhạt. 10/10 ngân hàng đều chưa có quy định công khai yêu cầu hay khuyến khích khách hàng doanh nghiệp thực hiện những cam kết về bình đẳng giới. Điểm đáng ghi nhận nhất trong các cam kết của các NHTM là cam kết về tài chính toàn diện với mức điểm trung bình của cả 10 ngân hàng đạt 5/10.

Hầu hết tất cả các ngân hàng đều có những chính sách công khai về chống tham nhũng, bảo vệ khách hàng, thuế, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Tuy vậy, cam kết chính sách về minh bạch và trách nhiệm giải trình vẫn ở mức hạn chế (0,5/10). Cao nhất là bảo vệ khách hàng nhưng vẫn còn rất thấp (2,4/10). Điểm cam kết của 10 NHTM về chống tham nhũng đạt 1,8/10 và về thuế đạt 1,6/10.

Nghiên cứu của nhóm cũng chỉ ra rằng các tổ chức tài chính cần cải thiện hệ thống chính sách và thực hành đánh giá rủi ro môi trường - xã hội trước khi ra quyết định đầu tư, cho vay.

Thảo luận về mối tương quan giữa các quyết định tài chính của NHTM và các tác động đến người dân, bà Vàng Thị Hoàn - một người dân sống tại xã Bản Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, nơi bị tác động tiêu cực của bảy thuỷ điện bậc thang trên dòng suối Mường Hoa cho hay hoạt động của các nhà máy thuỷ điện đã làm mất sinh kế của người dân, ảnh hưởng đến môi trường và nếu được hỏi ý kiến về việc xây dựng thủy điện tại địa phương, bà kiên quyết phản đối việc xây dựng các công trình thủy điện này,

Theo ông Phạm Xuân Hòe - nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng, khi ngân hàng "muốn trở thành ngân hàng số một của ASEAN chẳng hạn, đó là tầm nhìn chiến lược. Nhưng nếu anh vẫn cứ cho vay vào thủy điện nhỏ, nhiệt điện than, thì chiến lược đó sẽ không thực hiện được". Rủi ro danh tiếng còn lớn hơn - khi ngân hàng vẫn đầu tư vào những danh mục "gây vô vàn những mâu thuẫn về xã hội, người dân biểu tình, người dân không thích, người ta sẽ đi theo xu hướng bài xích không gửi tiền vào ngân hàng đầu tư vào nhiệt điện than hay những dự án rủi ro môi trường xã hội. Như vậy, ngân hàng sẽ mất khách hàng."

Từ những quan điểm này, các chuyên gia khuyến nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách về các yếu tố ESG dựa trên tiêu chuẩn và công ước quốc tế. Đồng thời, có cơ chế giám sát, thanh tra việc thực thi hệ thống quản lý môi trường - xã hội (ESMS). Hội thảo cũng khuyến nghị các ngân hàng thương mại Việt Nam tăng cường minh bạch thông tin, phát triển và thực hành các chính sách về ESG theo chuẩn mực quốc tế.

"Khi các tổ chức tài chính Việt Nam thực hiện tốt trách nhiệm môi trường- xã hội của mình, họ sẽ quản lý được rủi ro trong hoạt động tín dụng, qua đó đảm bảo đầu tư hiệu quả, giảm thiểu những tác động tiêu cực đến môi trường - xã hội và thúc đẩy thực hiện những mục tiêu phát triển bền vững (SDGs), nâng cao vị thế trong khu vực ASEAN và trên thị trường quốc tế. Qua đó, góp phần giúp Việt Nam thu hút thêm vốn từ những nhà đầu tư, quỹ đầu tư có trách nhiệm trên toàn cầu, và góp phần Việt Nam tiến xa hơn với mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững" - bà Nguyễn Thu Hương - quản lý cấp cao của tổ chức Oxfarm tại Việt Nam cho hay.

Dương An

Dương An

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm khép lại tuần ở 25.596 đồng/USD, giảm 9 đồng và là tuần giảm thứ hai liên tiếp; USD ngân hàng cũng đồng loạt đi xuống, trong khi DXY giữ mốc 99 điểm. Tại Mỹ, lạm phát cơ bản tháng 8 tăng 0,3% so với tháng trước, cao hơn dự báo 0,2%, làm nóng kỳ vọng Fed tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 ▼30K 14,490 ▼30K
Trang sức 99.99 13,900 ▼30K 14,500 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 ▼3K 14,532 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 ▼3K 14,533 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 ▼3K 1,448 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 ▼3K 1,449 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 ▼3K 1,438 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▼297K 142,376 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 ▼225K 108,011 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 ▼204K 97,944 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 ▲70251K 87,877 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 ▼175K 83,994 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 ▼125K 60,121 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cập nhật: 15/09/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17981 18255 18828
CAD 18151 18427 19044
CHF 31123 31501 32151
CNY 0 3832 3928
EUR 29362 29583 30662
GBP 34254 34645 35580
HKD 0 3184 3386
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14643 15231
SGD 19906 20188 20755
THB 697 760 814
USD (1,2) 25737 0 0
USD (5,10,20) 25776 0 0
USD (50,100) 25804 25818 26184
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,400 29,424 30,820
JPY 163.47 163.76 173.66
GBP 34,425 34,518 35,712
AUD 18,169 18,235 18,924
CAD 18,332 18,391 19,072
CHF 31,376 31,474 32,405
SGD 20,019 20,081 20,868
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.7 18.46 20.09
THB 745.51 754.72 808.1
NZD 14,628 14,764 15,205
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,943 4,083
NOK - 2,735 2,833
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,954.87 - 6,721.37
TWD 738.48 - 894.7
SAR - 6,804 7,167.1
KWD - 82,423 87,705
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,795 25,825 26,205
EUR 29,462 29,580 30,778
GBP 34,466 34,604 35,634
HKD 3,249 3,262 3,378
CHF 31,259 31,385 32,319
JPY 164.07 164.73 172.71
AUD 18,197 18,270 18,864
SGD 20,103 20,184 20,777
THB 763 766 802
CAD 18,362 18,436 19,026
NZD 14,729 15,268
KRW 18.37 20.31
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18193 18293 19218
CAD 18340 18440 19460
CHF 31373 31403 32993
CNY 3813.4 3838.4 3973.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29549 29579 31301
GBP 34556 34606 36377
HKD 0 3305 0
JPY 164.5 165 175.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14781 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20067 20197 20918
THB 0 726.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Cập nhật: 15/09/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30