Cân bằng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ thế nào?

Hà My
(TBTCO) - Việt Nam đã bắt đầu bước vào giai đoạn phục hồi sau đại dịch và các phương án hỗ trợ cho quá trình phục hồi này đang được bàn thảo. Bài toán lớn đặt ra với các nhà hoạch định chính sách lúc này là việc cân bằng giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để kích thích tăng trưởng và hỗ trợ phục hồi kinh tế trong giai đoạn tới.
aa

Cần thận trọng hơn đối với chính sách tiền tệ đã triển khai

Chia sẻ với phóng viên xung quanh vấn đề này, TS. Jacques Morisset - Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam cho biết, chúng ta đang ở trong đại dịch Covid-19, trong thời kỳ khủng hoảng, do đó cần hỗ trợ người dân và cả các doanh nghiệp bị ảnh hưởng. Đối với Chính phủ, để ổn định kinh tế, có hai công cụ hỗ trợ đắc lực trong ngắn hạn là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Như đa phần các quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam đã áp dụng chính sách tiền tệ, cụ thể là sử dụng các công cụ chính sách để khuyến khích hoạt động ngân hàng, giảm lãi suất, giảm chi phí vốn vay và mở rộng tín dụng cho người dân và doanh nghiệp.

“Việt Nam đã và đang triển khai chính sách này trong vòng 2 năm qua và theo tôi đây là hướng đi đúng đắn, cũng giống như nhiều quốc gia khác, vì chính sách này hỗ trợ cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19. Tất nhiên chính sách hỗ trợ này chưa đồng đều vì mới chỉ nhắm tới các hoạt động kinh doanh có liên quan tới ngân hàng, trong khi ở Việt Nam có ít nhất 50% các hoạt động kinh doanh ngoài ngân hàng. Bởi vậy có thể nói, dù chỉ là sự hỗ trợ cho một phần nền kinh tế, nhưng sự hỗ trợ này rất quan trọng” – TS. Morisset nhận định.

Việt Nam đã áp dụng chính sách tiền tệ, để khuyến khích hoạt động ngân hàng, giảm lãi suất, giảm chi phí vốn vay và mở rộng tín dụng cho người dân và doanh nghiệp.
Việt Nam đã áp dụng chính sách tiền tệ, để khuyến khích hoạt động ngân hàng, giảm lãi suất, giảm chi phí vốn vay và mở rộng tín dụng cho người dân và doanh nghiệp.

Tuy nhiên, TS. Morisset cũng chỉ ra rằng, chính sách tiền tệ cũng có những rủi ro bởi vì có thể tiền sẽ chảy vào túi những doanh nghiệp sẽ phá sản. Đó là kịch bản xấu nhất. Hay một kịch bản khác là các doanh nghiệp không thể trả tiền vay ngân hàng, như vậy vấn đề chỉ chuyển từ doanh nghiệp sang ngân hàng. Đó là một rủi ro lớn và bắt đầu có những lo ngại rằng, những rủi ro này ngày càng tăng, nhất là khi Việt Nam đã triển khai chính sách tiền tệ này được hai năm.

Bởi vậy, TS. Morisset cho rằng, Việt Nam cần thận trọng hơn đối với chính sách tiền tệ đã triển khai trong vòng hai năm qua, nhưng không có nghĩa là nên ngừng chính sách này mà cần thận trọng hơn, có thể là minh bạch hơn về tình hình hoạt động của các ngân hàng và doanh nghiệp hoặc của những người vay vốn trong hệ thống tài chính. Trong thời gian tới, các nhà hoạch định chính sách cần phải theo dõi sát sao tình hình “sức khỏe” của khu vực tài chính, để tránh những rủi ro hệ thống.

Bên cạnh đó, theo vị chuyên gia kinh tế trưởng của WB tại Việt Nam, qua những diễn biến gần đây của kinh tế thế giới và Việt Nam có thể thấy vấn đề về lạm phát có khả năng quay trở lại, không chỉ ở Việt Nam mà ở tất cả các quốc gia khác. Bởi vậy, Ngân hàng Nhà nước cần kiểm soát lạm phát thận trọng hơn so với thời gian đầu năm 2020.

Thực hiện các biện pháp kích cầu mạnh mẽ hơn

Về chính sách tài khóa, TS. Morisset phân tích, chính sách tài khóa là việc bơm tiền vào nền kinh tế, có thể thông qua đầu tư cho các dự án, tạo công ăn việc làm, mua bán nguyên vật liệu, hỗ trợ cho các tổ chức nhà nước để tiêu dùng và đưa vào nền kinh tế hoặc hỗ trợ tiền mặt cho người dân để kích cầu tiêu dùng. Theo ông, Việt Nam đã triển khai tất cả các hoạt động này, trong năm 2020 Việt Nam đã bơm tiền vào các hoạt động đầu tư, hỗ trợ tiền cho người dân nhưng việc thực hiện còn khá “rụt rè” trong năm 2020 và rụt rè hơn nữa trong năm 2021.

Lạc quan về triển vọng kinh tế Việt Nam

“Tôi rất lạc quan về triển vọng kinh tế Việt Nam, tất nhiên với điều kiện là Chính phủ kiểm soát tốt chính sách tài khóa và nền kinh tế không bị đóng cửa trở lại vì đại dịch Covid-19”. - TS. Jacques Morisset

TS. Morisset cho biết: “Theo như Bộ Tài chính chia sẻ với chúng tôi, ngân sách dự kiến chi 4% GDP để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân nhưng tiến độ thực hiện thực tế hiện mới chỉ giải ngân được khoảng trên 2,8% và trong 2,8% này có tới 1,6% là từ việc gia hạn thời gian nộp thuế”.

Vị chuyên gia WB cho rằng, Chính phủ có thực hiện hỗ trợ nhưng vẫn còn ở mức khá khiêm tốn, nhất là so với nhiều quốc gia khác trên thế giới, hay ngay cả các quốc gia ở châu Á như Nhật Bản, Malaysia, Hồng Kông... Vì vậy, trong thời gian tới, Chính phủ cần triển khai các biện pháp kích cầu mạnh mẽ hơn nữa, ví dụ như ban hành các gói tài khóa mạnh hơn như nhiều quốc gia khác đã thực hiện.

Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn còn dư địa tài khóa khi tỷ lệ nợ công mới chỉ ở mức 44% trong khi trần nợ công được Quốc hội thông qua ở mức hơn 60%. Việt Nam vẫn còn dư địa để vay vốn, cho dù không đẩy mạnh vay vốn thì Việt Nam cũng có thể tăng chi ngân sách vì dự trữ tiền mặt của Chính phủ vẫn tốt. Tóm lại, để đẩy nhanh quá trình phục hồi, điều Chính phủ cần lưu ý là chi ngân sách nhiều hơn, và giảm các khoản đóng góp cho người dân.

“Chính sách tài khóa có thể là một công cụ rất hiệu quả nếu Chính phủ có tiền để triển khai và Việt Nam vẫn còn dư địa để triển khai chính sách này. Tuy nhiên, đề xuất của tôi là Chính phủ cũng không nên sử dụng công cụ này mãi mà hãy chỉ sử dụng nó khi cần để kích thích tăng trưởng kinh tế và sử dụng nó để quay trở lại quỹ đạo tăng trưởng đã có từ trước thời kỳ đại dịch” – Chuyên gia kinh tế trưởng của WB Việt Nam TS. Morisset khuyến nghị.

Hà My

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (25/4): Tỷ giá đồng loạt tăng tuần qua, DXY trong thế giằng co

Tỷ giá USD hôm nay (25/4): Tỷ giá đồng loạt tăng tuần qua, DXY trong thế giằng co

(TBTCO) - Sáng ngày 25/4, tỷ giá trung tâm chốt phiên cuối tuần ở mức 25.113 đồng, tăng tổng cộng 11 đồng tuần qua, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng tuần qua lên 26.670 - 26.700 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY chốt tuần quanh 98,5 điểm, giảm nhẹ phiên gần nhất song tăng 0,76% tuần qua, phản ánh trạng thái giằng co do USD vẫn được hỗ trợ bởi rủi ro địa chính trị và chính sách thận trọng của Fed.
Đưa quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung thành “mạch dẫn” vốn dài hạn

Đưa quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung thành “mạch dẫn” vốn dài hạn

(TBTCO) - Khung pháp lý mới đang mở rộng dư địa đầu tư, cùng các ưu đãi thuế tiếp tục tăng sức hấp dẫn của quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung. Kinh nghiệm từ mô hình 401(k) tại Mỹ cho thấy, quỹ hưu trí không chỉ là “tấm đệm” tài chính cho người lao động khi về hưu, mà còn là “mạch vốn” bền bỉ, tạo lực đỡ phát triển thị trường vốn.
Đại hội đồng cổ đông BIDV: Mục tiêu lọt top khu vực, dồn lực đẩy vốn điều lệ lên mốc 100.000 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông BIDV: Mục tiêu lọt top khu vực, dồn lực đẩy vốn điều lệ lên mốc 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Năm 2026, BIDV đặt mục tiêu tăng trưởng tổng tài sản 5 - 10%, kiểm soát nợ xấu dưới 1,6% và đảm bảo các chỉ tiêu an toàn, hướng tới trở thành ngân hàng lớn - mạnh - xanh hàng đầu Đông Nam Á, sớm lọt top châu Á. BIDV cũng triển khai nhiều cổ phần, đẩy mạnh tăng vốn điều lệ lên ngưỡng 100.000 tỷ đồng, cải thiện hệ số CAR.
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Đại hội cổ đông HDBank 2026: Đặt kế hoạch lợi nhuận tăng 41%, quy mô tiệm cận 1,2 triệu tỷ đồng

Đại hội cổ đông HDBank 2026: Đặt kế hoạch lợi nhuận tăng 41%, quy mô tiệm cận 1,2 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Ngày 24/4/2026, Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; Ck: HDB) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026, kết hợp chương trình gặp gỡ và đối thoại nhà đầu tư, thu hút đông đảo cổ đông, các quỹ đầu tư quốc tế và nhiều định chế tài chính lớn trong và ngoài nước.
Đại hội cổ đông DBV: Tăng tốc doanh thu phí bảo hiểm gốc vượt 6.000 tỷ đồng, đặt mục tiêu bứt phá top 4

Đại hội cổ đông DBV: Tăng tốc doanh thu phí bảo hiểm gốc vượt 6.000 tỷ đồng, đặt mục tiêu bứt phá top 4

(TBTCO) - Bảo hiểm DBV hướng tới Top 4 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, với kế hoạch doanh thu bảo hiểm gốc chiếm 6.200 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế 44 tỷ đồng; đồng thời, tái cấu trúc danh mục sản phẩm, đẩy mạnh chuyển đổi số và mở rộng hệ sinh thái. DBV tiếp tục giữ lại lợi nhuận, để củng cố nền tảng tài chính và phục vụ tăng trưởng dài hạn.
Đại hội đồng cổ đông TPBank: Hướng tới 600.000 tỷ đồng tổng tài sản, tiết lộ "la bàn" định hướng hoạt động

Đại hội đồng cổ đông TPBank: Hướng tới 600.000 tỷ đồng tổng tài sản, tiết lộ "la bàn" định hướng hoạt động

(TBTCO) - Năm 2026, TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 10.300 tỷ đồng, tăng 12%; tổng tài sản hướng mốc 600.000 tỷ đồng. Ngân hàng đồng thời mở rộng hệ sinh thái khi dự kiến thành lập công ty bảo hiểm phi nhân thọ, đa dạng hóa nguồn thu. Lãnh đạo TPBank cũng chỉ rõ "la bàn" định hướng của ngân hàng để vượt biến động thị trường, trong bối cảnh quy mô tăng mạnh.
Đại hội đồng cổ đông MSB: Đặt kế hoạch lãi kỷ lục 8.000 tỷ đồng, bước đi chiến lược  thành tập đoàn tài chính

Đại hội đồng cổ đông MSB: Đặt kế hoạch lãi kỷ lục 8.000 tỷ đồng, bước đi chiến lược thành tập đoàn tài chính

(TBTCO) - Năm 2026, MSB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 8.000 tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay; đồng thời, lên kế hoạch tăng trưởng tín dụng 18% và phát hành cổ phiếu 20% nâng vốn điều lệ lên 37.440 tỷ đồng. Lãnh đạo MSB nhấn mạnh chiến lược trở thành tập đoàn tài chính, chuyển đổi mô hình TNEX Finance và mở rộng sang chứng khoán, quản lý quỹ, khai thác tệp "tài nguyên quý" 8 triệu khách hàng cá nhân, cùng doanh nghiệp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,630 16,880
Kim TT/AVPL 16,630 16,880
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,580 16,880
Nguyên Liệu 99.99 15,540 15,740
Nguyên Liệu 99.9 15,490 15,690
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,340 16,740
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,290 16,690
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,220 16,670
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 165,800 168,800
Hà Nội - PNJ 165,800 168,800
Đà Nẵng - PNJ 165,800 168,800
Miền Tây - PNJ 165,800 168,800
Tây Nguyên - PNJ 165,800 168,800
Đông Nam Bộ - PNJ 165,800 168,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,630 16,880
Miếng SJC Nghệ An 16,630 16,880
Miếng SJC Thái Bình 16,630 16,880
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,580 16,880
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,580 16,880
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,580 16,880
NL 99.90 15,400
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,450
Trang sức 99.9 16,070 16,770
Trang sức 99.99 16,080 16,780
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,663 16,882
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,663 16,883
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,658 1,683
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,658 1,684
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,638 1,668
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 158,649 165,149
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 116,363 125,263
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 104,685 113,585
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 93,008 101,908
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 88,504 97,404
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 60,813 69,713
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,663 1,688
Cập nhật: 26/04/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18312 18588 19173
CAD 18749 19027 19644
CHF 32913 33298 33949
CNY 0 3814 3907
EUR 30248 30522 31561
GBP 34857 35250 36193
HKD 0 3233 3436
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15183 15771
SGD 20111 20394 20921
THB 729 792 847
USD (1,2) 26090 0 0
USD (5,10,20) 26132 0 0
USD (50,100) 26160 26180 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,368
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,326 30,350 31,616
JPY 160.92 161.21 169.94
GBP 34,927 35,022 36,021
AUD 18,473 18,540 19,130
CAD 18,909 18,970 19,555
CHF 33,138 33,241 34,016
SGD 20,235 20,298 20,977
CNY - 3,790 3,912
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.39 17.09 18.5
THB 775.36 784.94 836.32
NZD 15,112 15,252 15,610
SEK - 2,804 2,886
DKK - 4,058 4,177
NOK - 2,779 2,861
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,222.5 - 6,984.19
TWD 756.54 - 911.21
SAR - 6,923.57 7,250.83
KWD - 83,846 88,696
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,211 30,332 31,512
GBP 34,847 34,987 35,995
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,910 33,042 33,977
JPY 160.98 161.63 168.89
AUD 18,436 18,510 19,104
SGD 20,253 20,334 20,915
THB 791 794 829
CAD 18,877 18,953 19,527
NZD 15,187 15,719
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26226 26226 26368
AUD 18443 18543 19469
CAD 18902 19002 20013
CHF 33092 33122 34705
CNY 3795.3 3820.3 3955.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30352 30382 32107
GBP 35033 35083 36841
HKD 0 3355 0
JPY 161.48 161.98 172.53
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15233 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20240 20370 21102
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16600000 16600000 16900000
SBJ 15000000 15000000 16900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,148 26,138 26,368
USD20 26,148 26,138 26,368
USD1 26,148 26,138 26,368
AUD 18,465 18,565 19,703
EUR 30,463 30,463 31,927
CAD 18,821 18,921 20,264
SGD 20,290 20,440 21,130
JPY 161.74 163.24 168.09
GBP 34,871 35,221 36,141
XAU 16,618,000 0 16,872,000
CNY 0 3,701 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/04/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80