Công tác thanh kiểm tra giúp tỷ lệ chậm đóng các quỹ bảo hiểm xã hội giảm dần

Hà My
(TBTCO) - Cùng với các giải pháp khác, công tác thanh tra, kiểm tra đã đóng góp rất hiệu quả mục tiêu tăng thu, giảm chậm đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Qua đó, tỷ lệ chậm đóng các quỹ đã giảm dần qua các năm.
aa

Lựa chọn đối tượng thanh kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm

Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, từ năm 2024 đến hết tháng 4/2025, để triển khai thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra có hiệu quả khi có nhiều sự đổi mới trong cơ chế hoạt động thanh tra, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã kịp thời ban hành một số văn bản chỉ đạo tăng cường, hướng dẫn thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật phát hiện qua hoạt động kiểm tra.

Đặc biệt là việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác dữ liệu trên các phần mềm quản lý nghiệp vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam để phân tích, sàng lọc, phát hiện dấu hiệu vi phạm, khoanh vùng và lựa chọn đối tượng thanh tra, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm.

Công tác thanh kiểm tra giúp tỷ lệ chậm đóng các quỹ bảo hiểm xã hội giảm dần
Thanh tra bảo hiểm xã hội làm việc với một doanh nghiệp tại Huế. Ảnh minh họa

Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng hướng dẫn bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố tổ chức hội nghị mời các đơn vị chậm đóng từ 3 tháng trở lên, đơn vị đã kê khai nộp thuế nhưng chưa tham gia hoặc đã tham gia nhưng chưa đầy đủ cho người lao động để tuyên truyền, phổ biến pháp luật và xử lý vi phạm về đóng bảo hiểm xã hội. Đồng thời, lồng ghép công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp khi tiến hành thanh tra trực tiếp tại đơn vị.

Bên cạnh đó, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã nghiêm túc chỉ đạo việc thực hiện xử phạt hoặc kiến nghị xử phạt vi phạm hành chính khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; kiên quyết cưỡng chế hoặc kiến nghị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính đã quá thời hạn chấp hành nhưng chưa tự nguyện chấp hành.

Trường hợp phát hiện vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự, cơ quan bảo hiểm xã hội đã kịp thời lập hồ sơ kiến nghị khởi tố hoặc gửi tin báo tố giác tội phạm đến Cơ quan Công an để xem xét, xử lý.

Thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành văn bản gửi UBND một số tỉnh để kiến nghị tiếp tục quan tâm, tăng cường lãnh đạo thực hiện tốt pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, trật tư an toàn xã hội trên địa bàn.

Nhiều kết quả tích cực

Vì vậy, cùng với các giải pháp khác, công tác thanh tra, kiểm tra đã đóng góp rất hiệu quả mục tiêu tăng thu, giảm chậm đóng vào quỹ BHXH, BHTN, BHYT tỷ lệ chậm đóng BHXH, BHTN, BHYT giảm dần qua các năm: năm 2021 là 3,67%, năm 2022 là 2,91%, năm 2023 là 2,69%, năm 2024 là 2,59%).

Công tác thanh kiểm tra giúp tỷ lệ chậm đóng các quỹ bảo hiểm xã hội giảm dần
Công tác thanh kiểm tra giúp bảo vệ tối đa quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Ảnh minh họa

Số liệu thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam từ ngày 01/01/2024 đến ngày 29/4/2025 cho thấy, toàn hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thực hiện thanh tra, kiểm tra tại 22.928 đơn vị.

Hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra từng bước được nâng lên; số tiền thu hồi về quỹ và số hành vi bị xử phạt vi phạm hành chính trong năm 2024 so với năm 2023 đều tăng.

Số tiền truy đóng do chưa đóng, đóng thiếu thời gian, đóng thiếu mức tăng 18,15% so với năm 2023; số quyết định xử phạt vi phạm hành chính về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tăng 6,57% so với năm 2023; số tiền chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế không đúng quy định được thu hồi về quỹ Bảo hiểm y tế tăng 54,5% so với năm 2023.

Công tác thanh tra, kiểm tra đã kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi chậm đóng, trốn đóng, chiếm dụng quỹ; xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm kéo dài, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động. Qua đó, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của người sử dụng lao động và người lao động, tạo hiệu ứng răn đe, phòng ngừa vi phạm, từ đó góp phần thực hiện hiệu quả chính sách an sinh xã hội.

Qua thanh tra chuyên ngành, kiểm tra về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, cơ quan bảo hiểm xã hội đã yêu cầu truy thu tiền đóng của 17.464 lao động thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế nhưng chưa tham gia hoặc đóng thiếu thời gian với số tiền là 130,7 tỷ đồng; 38.957 lao động đóng thiếu mức đóng quy định với số tiền phải truy đóng là 127,3 tỷ đồng.

Tổng số tiền các đơn vị được thanh tra, kiểm tra chậm đóng trước khi có quyết định thanh tra, kiểm tra là 2.106,8 tỷ động; số tiền thu hồi được trong thời gian thanh tra, kiểm tra là 1.099,8 tỷ đồng.

Đồng thời, đã ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành 1.948 quyết định xử phạt vi phạm hành chính về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế với tổng số tiền xử phạt phải nộp vào ngân sách nhà nước là 61,1 tỷ đồng.

Qua kiểm tra công tác chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, cơ quan bảo hiểm xã hội đã yêu cầu thu hồi về quỹ Bảo hiểm xã hội số tiền 11,2 tỷ đồng do hưởng chế độ bảo hiểm xã hội không đúng quy định; yêu cầu thu hồi về quỹ Bảo hiểm thất nghiệp số tiền 981,03 triệu đồng do hưởng trợ cấp thất nghiệp không đúng quy định.

Về kết quả kiểm tra công tác quản lý, thanh quyết toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế: qua kiểm tra đã yêu cầu thu hồi về quỹ Bảo hiểm y tế số tiền 172,4 tỷ đồng chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế không đúng quy định./.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam đánh giá, kết quả thanh tra kiểm tra đã góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn vững chắc, với những dữ liệu xác thực, phản ánh rõ nét các tồn tại, bất cập trong việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế. Những kết quả này là cơ sở quan trọng, giúp Bảo hiểm xã hội Việt Nam đề xuất các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Thanh tra và các quy định liên quan, góp phần hoàn thiện khung pháp lý, đảm bảo tính khả thi, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và bảo vệ tối đa quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.../.
Hà My

Đọc thêm

VPBank nâng vốn điều lệ lên ngưỡng 100.000 tỷ đồng trong bối cảnh tín dụng tăng mạnh

VPBank nâng vốn điều lệ lên ngưỡng 100.000 tỷ đồng trong bối cảnh tín dụng tăng mạnh

(TBTCO) - VPBank dự kiến phát hành hơn 2,06 tỷ cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 26,04%, qua đó nâng vốn điều lệ từ 79.339 tỷ đồng lên 100.000 tỷ đồng ngay trong quý II - III/2026 và trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên vượt mốc này. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô tín dụng hợp nhất mở rộng mạnh 10,2% chỉ sau một quý, đạt 1,06 triệu tỷ đồng.
Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở được điều chỉnh từ 2.340.000 đồng/tháng lên 2.530.000 đồng/tháng. Việc điều chỉnh này không chỉ tác động đến tiền lương, phụ cấp của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, mà còn là căn cứ để tính một số khoản đóng, mức hưởng trong chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

(TBTCO) - Trong khi nhiều quốc gia phát triển mạnh các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, đặc biệt là cho thuê tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, Việt Nam lại thiếu vắng các định chế tài chính trung gian đủ mạnh. Điều này khiến ngân hàng thương mại tiếp tục “gánh” phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế.
BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành hơn 498 triệu cổ phiếu để tăng vốn điều lệ thêm gần 4.982 tỷ đồng từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 77.782 tỷ đồng, tức tăng 6,8433%. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh BIDV cần củng cố hệ số CAR, đáp ứng lộ trình triển khai Basel III và tạo dư địa mở rộng tín dụng.
Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

(TBTCO) - Khảo sát mới đây do Sun Life thực hiện cho thấy phụ nữ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực chồng chéo về tài chính, sự nghiệp và sức khỏe cá nhân, xuất phát từ vai trò chăm sóc gia đình đa thế hệ, trong khi sự chuẩn bị cho các rủi ro tài chính dài hạn vẫn còn hạn chế.
Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

(TBTCO) - Chiến dịch “Chọn Xanh cho Khỏe - Vì một Việt Nam thật Khỏe” của Manulife Việt Nam vừa được vinh danh tại giải thưởng quốc tế uy tín Global CSR & ESG Awards, ở hạng mục “Doanh nghiệp có chương trình cộng đồng xuất sắc”.
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng miếng phổ biến lùi về vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,940 16,240
Kim TT/AVPL 15,940 16,240
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,940 16,240
Nguyên Liệu 99.99 14,890 15,090
Nguyên Liệu 99.9 14,840 15,040
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,690 16,090
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,640 16,040
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,570 16,020
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,400 162,400
Hà Nội - PNJ 159,400 162,400
Đà Nẵng - PNJ 159,400 162,400
Miền Tây - PNJ 159,400 162,400
Tây Nguyên - PNJ 159,400 162,400
Đông Nam Bộ - PNJ 159,400 162,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,940 16,240
Miếng SJC Nghệ An 15,940 16,240
Miếng SJC Thái Bình 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,940 16,240
NL 99.90 14,600
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,650
Trang sức 99.9 15,430 16,130
Trang sức 99.99 15,440 16,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,594 16,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,594 16,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,589 1,619
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,589 162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,569 1,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 152,312 158,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,562 120,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,333 109,233
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,104 98,004
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,773 93,673
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,143 67,043
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Cập nhật: 22/05/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18279 18555 19130
CAD 18612 18889 19511
CHF 32876 33261 33915
CNY 0 3837 3929
EUR 30020 30293 31321
GBP 34640 35033 35959
HKD 0 3234 3436
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15162 15753
SGD 20077 20359 20884
THB 723 786 839
USD (1,2) 26095 0 0
USD (5,10,20) 26137 0 0
USD (50,100) 26165 26180 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,161 26,161 26,391
USD(1-2-5) 25,115 - -
USD(10-20) 25,115 - -
EUR 30,201 30,225 31,484
JPY 161.69 161.98 170.76
GBP 34,874 34,968 35,968
AUD 18,470 18,537 19,124
CAD 18,849 18,910 19,493
CHF 33,165 33,268 34,052
SGD 20,227 20,290 20,972
CNY - 3,811 3,934
HKD 3,307 3,317 3,436
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 771.86 781.39 831.25
NZD 15,140 15,281 15,645
SEK - 2,780 2,861
DKK - 4,041 4,160
NOK - 2,801 2,884
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,223.64 - 6,985.42
TWD 756.56 - 911.22
SAR - 6,925.36 7,252.09
KWD - 83,849 88,699
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,141 26,161 26,391
EUR 30,084 30,205 31,384
GBP 34,788 34,928 35,934
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,904 33,036 33,965
JPY 162 162.65 169.99
AUD 18,490 18,564 19,153
SGD 20,267 20,348 20,930
THB 789 792 827
CAD 18,818 18,894 19,465
NZD 15,206 15,739
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26203 26203 26391
AUD 18452 18552 19478
CAD 18793 18893 19907
CHF 33110 33140 34715
CNY 3816.9 3841.9 3977.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30194 30224 31947
GBP 34917 34967 36728
HKD 0 3355 0
JPY 162.3 162.8 173.35
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15266 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 752.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15940000 15940000 16240000
SBJ 14000000 14000000 16240000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,191 26,241 26,391
USD20 26,191 26,241 26,391
USD1 26,191 26,241 26,391
AUD 18,472 18,572 19,684
EUR 30,310 30,310 31,719
CAD 18,735 18,835 20,143
SGD 20,301 20,451 21,360
JPY 162.79 164.29 168.83
GBP 34,811 35,161 36,033
XAU 15,948,000 0 16,242,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/05/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80