Ủy ban Kinh tế của Quốc hội:

Đánh giá kỹ hơn tác động của việc neo tỷ giá VND với USD

Hoàng Yến
(TBTCO) - Ủy ban Kinh tế đề nghị đánh giá kỹ hơn tác động của việc neo tỷ giá đồng Việt Nam với đồng USD trong bối cảnh nhiều đồng tiền mất giá mạnh so với đồng USD, nhất là tới tiềm lực dự trữ ngoại hối và khả năng cạnh tranh xuất khẩu của hàng hóa Việt Nam so với các nước khác.
aa
Tác động đa chiều đến tỷ giá đồng Việt Nam với USD Chưa thấy quá nhiều áp lực tiêu cực lên diễn biến tỷ giá USD/VND Việc kiểm soát “chảy máu” USD cần có sự cân nhắc, đánh giá về quy mô

Đạt và vượt 14/15 chỉ tiêu về phát triển kinh tế xã hội

Sáng 11/10, tiếp tục chương trình phiên họp thứ 16, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã cho ý kiến về các báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2022, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm 2023; kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2022; dự kiến kế hoạch đầu tư công năm 2023.

Trình bày báo cáo thẩm tra đánh giá thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022 và dự kiến kế hoạch năm 2023, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh cho biết, Việt Nam là quốc gia duy nhất ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và là 1 trong 4 quốc gia trên thế giới được Moody’s nâng hạng tín nhiệm kể từ đầu năm đến nay.

Ước thực hiện cả năm 2022 có 14/15 chỉ tiêu về phát triển kinh tế - xã hội đạt và vượt mục tiêu, trong đó tăng trưởng GDP ước khoảng 8%, CPI khoảng 4%. Đây là những kết quả đáng khích lệ trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, nhiều thách thức lớn hơn so với dự báo.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh

Bên cạnh kết quả đạt được, Ủy ban Kinh tế đề nghị quan tâm, đánh giá kỹ hơn một số vấn đề. Cụ thể, tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm, nhất là quý III cao song không nên chủ quan vì nền tăng trưởng cùng kỳ thấp (quý III/2021 GDP giảm hơn 6%). Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội thấp hơn so với mục tiêu (ước tăng 4,7-5,2%, mục tiêu là 5,5%) mặc dù tăng trưởng kinh tế dự kiến vượt khoảng 2%.

Mặc dù giải ngân thực hiện FDI rất tích cực, dự kiến cả năm đạt khoảng 21 - 22 tỷ USD nhưng thu hút FDI 9 tháng giảm 15,3% so với cùng kỳ, nhất là vốn đăng ký cấp mới chỉ bằng 57%, chưa tận dụng hiệu quả các cơ hội từ xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư. Ủy ban Kinh tế đề nghị bổ sung đánh giá khả năng áp dụng Quy tắc thuế tối thiểu toàn cầu, dự kiến áp dụng từ năm 2023 và tác động đến thu hút đầu tư vào Việt Nam trong thời gian tới để có các giải pháp phù hợp.

Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội còn hạn chế; các gói hỗ trợ thực hiện còn chậm, gói hỗ trợ lãi suất 2% qua hệ thống ngân hàng thương mại có tỷ lệ giải ngân rất thấp. Việc “phấn đấu giảm lãi suất cho vay khoảng 0,5% - 1% trong 2 năm 2022 và 2023, nhất là đối với lĩnh vực ưu tiên” không thực hiện được, doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Có ý kiến cho rằng bối cảnh hiện nay đã có nhiều điểm khác so với thời điểm xây dựng và ban hành Nghị quyết số 43, điều này cho thấy cần xem xét điều chỉnh, hoàn thiện một số chính sách trong quá trình thực thi, bảo đảm tính hợp lý, cân đối.

Xây dựng dự toán thu ngân sách nhà nước (NSNN) còn chưa sát, số tăng thu dự kiến lớn, vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương chưa được bảo đảm. Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng thu NSNN có dấu hiệu giảm trong những tháng sắp tới, không giống xu thế thông thường cũng là vấn đề cần quan tâm làm rõ.

Tiến độ giải ngân chi đầu tư phát triển tiếp tục chậm, ước giải ngân vốn đầu tư công đến ngày 30/9/2022 chỉ đạt 46,7%, riêng vốn ODA chỉ đạt khoảng 15%. Có tới 39/51 bộ, cơ quan trung ương và 22/63 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt dưới mức trung bình (46,70%), trong đó có 14 bộ, cơ quan trung ương có tỷ lệ giải ngân dưới 20%.

Rủi ro liên thông giữa thị trường vốn, ngân hàng và bất động sản

Bên cạnh đó, việc xử lý các ngân hàng thương mại yếu kém, các dự án, doanh nghiệp chậm tiến độ, kém hiệu quả, thua lỗ tiếp tục được triển khai theo các đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cho giai đoạn 2021 - 2025 nhưng kết quả chưa rõ nét, mới chỉ dừng ở phê duyệt phương án, triển khai thực hiện còn chậm, chưa đi vào thực chất.

Xuất khẩu có dấu hiệu chậm lại. Cán cân thương mại hàng hóa 9 tháng ước xuất siêu 6,52 tỷ USD, tuy nhiên, theo báo cáo của Chính phủ ước xuất siêu cả năm 1 tỷ USD. Cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ dự báo mức thâm hụt cán cân thương mại hàng hóa 3 tháng cuối năm lên tới 5,5 tỷ USD.

Toàn cảnh
Toàn cảnh phiên họp

Tiến độ công tác quy hoạch tuy đã được đẩy nhanh nhưng việc triển khai quy hoạch, nhất là công tác lập các quy hoạch thời kỳ 2021 - 2030 vẫn rất chậm. Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn nhiều bất cập, chưa phân bổ hết chỉ tiêu đất phát triển công nghiệp cho các địa phương. Tiến độ lập quy hoạch điện VIII rất chậm so với yêu cầu, ảnh hưởng đến thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội.

Về thị trường tài chính tiền tệ, Ủy ban Kinh tế đề nghị đánh giá kỹ hơn tác động của việc neo tỷ giá đồng Việt Nam so với đồng USD trong bối cảnh nhiều đồng tiền mất giá mạnh so với đồng USD, nhất là tới tiềm lực dự trữ ngoại hối và khả năng cạnh tranh xuất khẩu của hàng hóa Việt Nam so với các nước khác. Bên cạnh đó, cần đánh giá kỹ nguyên nhân của nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu nội bảng có xu hướng gia tăng; đến cuối tháng 7/2022, tỷ lệ nợ xấu nội bảng là 1,7%; tỷ lệ nợ xấu, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và các khoản tiềm ẩn trở thành nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng là 5,41%. Thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển nhanh nhưng có nhiều biến động và tiềm ẩn rủi ro.

Kết thúc phiên ngày 7/10/2022, chứng khoán Việt Nam đã giảm 484 điểm, tương ứng 31,8% từ đỉnh (ngày 6/1/2022), là thị trường có mức giảm mạnh nhất thế giới. VN-Index hiện đang ở mức thấp nhất kể từ phiên ngày 10/12/2020; HNX-Index và UPCoM-Index cũng đang ghi nhận mức điểm thấp nhất trong gần hai năm trở lại đây.

Ủy ban Kinh tế cũng lưu ý vụ việc xảy ra tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Đầu tư An Đông và các tổ chức, đơn vị có liên quan cùng với những vụ việc khác liên quan đến thị trường trái phiếu đã xảy ra trong năm đang được xã hội, người dân rất quan tâm. Đồng thời, lưu ý rủi ro liên thông giữa thị trường vốn với hệ thống các tổ chức tín dụng và thị trường bất động sản gia tăng.

Doanh nghiệp rút khỏi thị trường cao hơn năm 2020, 2021

Mặc dù doanh nghiệp thành lập mới và hoạt động trở lại trong 9 tháng năm 2022 tăng cao (38,6% so với cùng kỳ năm 2021), nhưng những doanh nghiệp mới chưa đóng góp nhiều cho nền kinh tế. Trong khi đó doanh nghiệp đối mặt nhiều khó khăn, 9 tháng năm 2022 bình quân mỗi tháng có 12,5 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, cao hơn bình quân của năm 2020 (8,5 nghìn doanh nghiệp) và năm 2021 (gần 10 nghìn doanh nghiệp).

Hoàng Yến

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Tỷ giá USD hôm nay (24/7): USD đồng loạt tăng khi Mỹ áp thuế mới với hơn 60 đối tác, trong đó có Việt Nam

Tỷ giá USD hôm nay (24/7): USD đồng loạt tăng khi Mỹ áp thuế mới với hơn 60 đối tác, trong đó có Việt Nam

(TBTCO) - Sáng 24/7, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng mạnh 11 đồng lên 25.283 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt đi lên. Chỉ số DXY tăng lên 101,44 điểm, tiến sát đỉnh một năm. Cùng lúc, Mỹ áp thuế nhập khẩu mới 10 - 12,5% với hơn 60 đối tác thương mại, trong đó có Việt Nam; còn Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) giữ nguyên lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (23/7): Tỷ giá trung tâm tăng đáng kể, USD ngân hàng diễn biến trái chiều

Tỷ giá USD hôm nay (23/7): Tỷ giá trung tâm tăng đáng kể, USD ngân hàng diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Sáng 23/7, tỷ giá trung tâm tăng đáng kể, lên 25.272 đồng. Tại một số ngân hàng, tỷ giá USD đồng loạt giảm, trong khi giá bán ra giữ ở mức 26.500 đồng, cao hơn thị trường tự do. Trong khi đó, DXY giảm 0,05%, xuống 101,14 điểm. Nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất vì lạm phát nguồn cung, nhiều ngân hàng trung ương lớn có thể điều chỉnh theo hướng tương tự.
Tỷ giá USD hôm nay (22/7): Tỷ giá USD ngân hàng tiến sát trần khi DXY duy trì vùng cao trên 101 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (22/7): Tỷ giá USD ngân hàng tiến sát trần khi DXY duy trì vùng cao trên 101 điểm

(TBTCO) - Sáng 22/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên ở mức 25.260 đồng, song tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng thương mại tiếp tục nhích tăng. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,2% lên 101,19 điểm khi nhu cầu nắm giữ đồng bạc xanh gia tăng trước căng thẳng địa chính trị.
Tỷ giá USD hôm nay (21/7): DXY áp sát mốc 101 điểm, USD tự do bất ngờ lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (21/7): DXY áp sát mốc 101 điểm, USD tự do bất ngờ lao dốc

(TBTCO) - Sáng 21/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng lên 25.260 đồng, trong khi USD tự do đảo chiều giảm mạnh về 26.290 - 26.330 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,99 điểm, được hỗ trợ bởi lợi suất trái phiếu Mỹ cao và nhu cầu trú ẩn, trong khi thị trường kỳ vọng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) giữ nguyên lãi suất.
MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Tỷ giá USD hôm nay (20/7): USD tự do tăng vọt, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ ECB

Tỷ giá USD hôm nay (20/7): USD tự do tăng vọt, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ ECB

(TBTCO) - Sáng 20/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.252 đồng, trong khi USD trên thị trường tự do vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY đứng ở 100,79 điểm, căng thẳng Mỹ - Iran và giá dầu phục hồi làm dấy lên lo ngại lạm phát có thể tăng trở lại. Thị trường hiện chờ cuộc họp của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) ngày 23/7 và tín hiệu về lãi suất tháng 9.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,500 ▲300K 141,200
Hà Nội - PNJ 136,500 ▲300K 141,200
Đà Nẵng - PNJ 136,500 ▲300K 141,200
Miền Tây - PNJ 136,500 ▲300K 141,200
Tây Nguyên - PNJ 136,500 ▲300K 141,200
Đông Nam Bộ - PNJ 136,500 ▲300K 141,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,150
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,150
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,800 ▲50K 14,200 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,800 ▲50K 14,200 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,800 ▲50K 14,200 ▲50K
NL 99.99 12,950
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,390 ▲50K 14,090 ▲50K
Trang sức 99.99 13,400 ▲50K 14,100 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 1,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 139
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 137,624
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 10,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 94,679
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 84,948
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 81,195
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 58,119
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cập nhật: 29/07/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17734 18008 18587
CAD 18128 18403 19025
CHF 31457 31836 32479
CNY 0 3849 3943
EUR 29350 29570 30654
GBP 34188 34579 35517
HKD 0 3225 3428
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14899 15495
SGD 19827 20108 20688
THB 701 764 817
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26135 26505
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,145 26,145 26,525
USD(1-2-5) 25,100 - -
USD(10-20) 25,100 - -
EUR 29,495 29,519 30,926
JPY 156.5 156.78 166.21
GBP 34,380 34,473 35,536
AUD 17,968 18,033 18,714
CAD 18,333 18,392 19,065
CHF 31,788 31,887 32,816
SGD 19,956 20,018 20,809
CNY - 3,814 3,959
HKD 3,290 3,300 3,438
KRW 16.72 17.44 18.97
THB 749.11 758.36 812.33
NZD 14,898 15,036 15,477
SEK - 2,673 2,767
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,676 2,770
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,021.83 - 6,795.68
TWD 731.41 - 885.95
SAR - 6,895.43 7,262.06
KWD - 83,222 88,539
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,125 26,145 26,525
EUR 29,436 29,554 30,746
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,290 3,303 3,421
CHF 31,612 31,739 32,653
JPY 156.83 157.46 165.36
AUD 18,009 18,081 18,677
SGD 20,030 20,110 20,699
THB 765 768 804
CAD 18,344 18,418 18,995
NZD 14,984 15,527
KRW 17.32 19.21
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26500
AUD 17924 18024 18949
CAD 18317 18417 19431
CHF 31709 31739 33321
CNY 3830.4 3855.4 3990.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29539 29569 31294
GBP 34498 34548 36308
HKD 0 3355 0
JPY 157.38 157.88 168.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.5 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15018 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19988 20118 20845
THB 0 730.2 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14150000
SBJ 12500000 12500000 14150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,164 26,214 26,550
USD20 26,114 26,214 26,567
USD1 26,064 26,214 26,571
AUD 17,989 18,089 19,202
EUR 29,368 29,468 31,127
CAD 18,286 18,386 19,692
SGD 20,073 20,223 20,788
JPY 157.96 159.46 164.98
GBP 34,411 34,561 35,780
XAU 13,648,000 0 14,052,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/07/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80