Đón mùa báo lãi, nhiều ngân hàng tăng trưởng ba con số

(TBTCO) - Ngân hàng đang đón mùa báo lãi quý IV/2024 và năm 2024 khi nhiều đơn vị công bố sơ bộ kết quả kinh doanh với sự tăng trưởng mạnh mẽ về lợi nhuận lẫn tăng trưởng tín dụng. Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh tăng trưởng ổn định, báo lãi tỷ USD thì một số ngân hàng tư nhân dự báo lợi nhuận tăng ba con số so với cùng kỳ như: MSB, TPBank...
aa
Triển vọng tích cực năm 2025, ngành ngân hàng tăng trưởng lợi nhuận 15%

Theo FiinTrade, có 6/27 ngân hàng đưa ra ước tính sơ bộ về lợi nhuận, trong đó, TPBank và Sacombank ghi nhận tăng trưởng cao về lợi nhuận so với cùng kỳ, lần lượt 229% và 63%. Trong khi đó, BIDV ước tính lợi nhuận quý IV/2024 tăng trưởng ổn định ở mức 15,4% cùng kỳ. Chỉ riêng HDBank ước lợi nhuận giảm so với cùng kỳ.

MB tạm dẫn đầu nhóm ngân hàng tư nhân

Thống kê của FiinTrade cho thấy, đã có 56 doanh nghiệp niêm yết đại diện 18,9% vốn hóa toàn thị trường công bố chính thức và sơ bộ về kết quả kinh doanh của quý IV/2024 cũng như cả năm 2024.

Đón mùa báo lãi, nhiều ngân hàng tăng trưởng ba con số
Ước tính kết quả kinh doanh quý IV/2024, theo SSI Research, một số ngân hàng tăng trưởng lợi nhuận sau thuế đột biến có thể kể đến: MSB ước tăng 180%, cả năm tăng 40,3%; TPBank tăng 193,7% song cả năm chỉ tăng 7%; VPBank ước tăng 92%...

Chia sẻ tại Hội nghị Nhà đầu tư mới đây, lãnh đạo MB ước tính lợi nhuận trước thuế riêng lẻ ngân hàng năm 2024 tăng khoảng 12% so với năm 2023 và đạt 27.600 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất tăng khoảng 9 - 10%, đạt gần 29.000 tỷ đồng. MB hiện là ngân hàng báo lãi trước thuế năm 2024 cao nhất khối ngoài quốc doanh, bởi hiện Techcombank chưa công bố kết quả kinh doanh cả năm.

Báo cáo sơ bộ kết quả kinh doanh năm 2024, lợi nhuận trước thuế của TPBank đạt gần 7.600 tỷ đồng, tăng 36% so với năm 2023 và vượt kế hoạch đề ra tại Đại hội đồng cổ đông.

Tính đến hết 2024, tổng tài sản của ngân hàng vượt 418.000 tỷ đồng, tăng 17% so với năm trước và vượt kế hoạch 7%; vốn điều lệ tăng lên 26.420 tỷ đồng. Dư nợ tín dụng của TPBank, bao gồm cho vay khách hàng và trái phiếu doanh nghiệp, đạt 261.500 tỷ đồng, tăng hơn 20%.

Sacombank mới đây cũng công bố kết quả kinh doanh sơ bộ quý IV/2024 và cả năm 2024. Lợi nhuận trước thuế của Sacombank trong quý IV/2024 ước đạt hơn 4.600 tỷ đồng, tăng 68% so với cùng kỳ và cả năm 2024 ước đạt trên 12.700 tỷ đồng, mức cao nhất từ trước đến nay và vượt chỉ tiêu Đại hội đồng cổ đông giao. Huy động vốn và dư nợ tín dụng ước đạt lần lượt 649.000 tỷ đồng và 542.000 tỷ đồng, đều tăng 12% so với cùng kỳ.

Eximbank công bố kết quả kinh doanh năm 2024 với lợi nhuận đạt 4.188 tỷ đồng, tăng 54% so với năm 2023. Tính đến cuối năm 2024, tổng tài sản tăng trưởng 18,9%, đạt 239.532 tỷ đồng. Dư nợ cấp tín dụng tăng 19,72%.

Kết thúc năm 2024, LPBank công bố lợi nhuận trước thuế đạt 12.168 tỷ đồng, hoàn thành 116% kế hoạch lợi nhuận đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua, chính thức bước chân vào nhóm các doanh nghiệp có lợi nhuận trên 10.000 tỷ đồng.

Nam A Bank mới đây công bố sơ bộ kết quả kinh doanh năm 2024 với lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.545 tỷ đồng, tăng 37,56% so với cùng kỳ năm 2023, vượt 13,6% chỉ tiêu được giao.

"Ông lớn" quốc doanh lãi tỷ USD

Với khối ngân hàng quốc doanh, tại hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành ngân hàng năm 2025 diễn ra vào giữa tháng 12/2024, lãnh đạo Vietcombank, cho biết ngân hàng đã cơ bản hoàn thành các mục tiêu và kế hoạch được Ngân hàng Nhà nước và Đại hội đồng cổ đông giao. Lợi nhuận hoàn thành kế hoạch đề ra, với lợi nhuận trước thuế đạt trên 41.000 tỷ đồng, cao nhất ngành ngân hàng và hoàn thành kế hoạch do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) giao.

Đón mùa báo lãi, nhiều ngân hàng tăng trưởng ba con số
Đón mùa báo lãi, nhiều ngân hàng tăng trưởng ba con số.

Báo cáo tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ kế hoạch kinh doanh năm 2025, Ban lãnh đạo BIDV cho biết, tính đến hết năm 2024, các chỉ tiêu kinh doanh của ngân hàng đều đạt và vượt kế hoạch NHNN và Đại hội đồng cổ đông giao. Trong đó, lợi nhuận trước thuế riêng ngân hàng đạt 30.006 tỷ đồng (tương đương hơn 1,1 tỷ USD), tăng trưởng 12,4% so với năm 2023.

Agribank cũng báo lãi kỷ lục sau khi công bố sơ bộ kết quả kinh doanh năm 2024 với lợi nhuận trước thuế tăng trên 8%. Trước đó, năm 2023, Agribank ghi nhận lợi nhuận trước thuế riêng lẻ đạt 25.525 tỷ đồng. Như vậy, lợi nhuận trước thuế riêng lẻ ngân hàng năm 2024 ước tính đạt trên 27.500 tỷ đồng.

Tại Hội nghị Tổng kết công tác Đảng, hoạt động kinh doanh năm 2024 và triển khai nhiệm vụ năm 2025, lãnh đạo Vietinbank cho biết, lợi nhuận năm 2024 cũng đạt và vượt kế hoạch đề ra. Trước đó, hồi tháng 10/2024, Vietinbank đã công bố chính thức các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh năm 2024 với mục tiêu lợi nhuận trước thuế ngân hàng mẹ đạt mức kỷ lục 26.300 tỷ đồng, tăng 8,7% so với năm trước./.

Theo số liệu từ NHNN, tăng trưởng tín dụng tính đến cuối năm 2024 đã tăng 15,08% so với cuối năm 2023, vượt mục tiêu NHNN đặt ra là 15% và cao nhất trong vòng nhiều năm gần đây. Tín dụng được giải ngân vào đa dạng phân khúc, ngành nghề ưu tiên, lĩnh vực trọng điểm trong nền kinh tế. Hiện lợi nhuận ngân hàng chủ yếu vẫn trông chờ vào tín dụng, với mức tăng trưởng tín dụng cao nên đã kéo tăng trưởng lợi nhuận năm 2024 cho nhiều nhà băng./.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay 26/8: Vàng thế giới neo cao, vàng trong nước vẫn chưa dừng tăng

Giá vàng hôm nay 26/8: Vàng thế giới neo cao, vàng trong nước vẫn chưa dừng tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.661 USD/ounce sau khi tăng hơn 15% trong một tháng. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn tiếp tục đi lên, có nơi đạt 154 triệu đồng/lượng.
Tỷ lệ nợ quá hạn lên 3,8%, sức ép thanh khoản và huy động vốn ngành ngân hàng gia tăng

Tỷ lệ nợ quá hạn lên 3,8%, sức ép thanh khoản và huy động vốn ngành ngân hàng gia tăng

(TBTCO) - VIS Rating cảnh báo rủi ro tài sản ngân hàng đang lan rộng, khi tỷ lệ nợ quá hạn tăng từ 3,3% lên 3,8% trong nửa đầu năm 2026. Trong bối cảnh lãi suất neo cao, khả năng trả nợ suy giảm, bộ đệm vốn ở mức khiêm tốn; trong khi đó, rủi ro huy động vốn và thanh khoản tiếp tục hiện hữu khi tín dụng trung, dài hạn tăng mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 25/8: Giá vàng tiếp tục tăng, vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/8: Giá vàng tiếp tục tăng, vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục đi lên, vượt 4.650 USD/ounce. Trong nước, sáng nay, giá vàng tiếp tục nhích tăng sau phiên tăng mạnh hôm qua, với vàng nhẫn có nơi vượt 155 triệu đồng/lượng.
Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng "hãm tốc" song áp lực chất lượng tài sản vẫn lớn

Nợ có khả năng mất vốn gần 175.000 tỷ đồng, đà tăng "hãm tốc" song áp lực chất lượng tài sản vẫn lớn

(TBTCO) - Tính đến cuối quý II/2026, nợ nhóm 5 các ngân hàng niêm yết đạt 174.685,2 tỷ đồng, tăng 3,7%, thấp hơn đáng kể mức tăng 17,5% tổng nợ xấu. Tuy nhiên, nợ có khả năng mất vốn vẫn chiếm áp đảo 56% tổng nợ xấu, trong khi nợ nhóm 2 và nợ ngoại bảng gia tăng, cho thấy áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu.
Techcombank dự tính điều chỉnh kế hoạch tăng vốn, hạ tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu còn 50%

Techcombank dự tính điều chỉnh kế hoạch tăng vốn, hạ tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu còn 50%

(TBTCO) - Techcombank dự kiến phát hành hơn 3,54 tỷ cổ phiếu trả cổ tức tỷ lệ 50% và gần 30 triệu cổ phiếu cho người lao động, qua đó, nâng vốn điều lệ lên gần 106.600 tỷ đồng. Phương án mới điều chỉnh đáng kể so với kế hoạch trước, trong bối cảnh tín dụng của ngân hàng tăng mạnh và tiến sát hạn mức theo kịch bản đưa ra tại Đại hội đồng cổ đông.
Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm uy tín đầu tư lâu dài

Việt Nam luôn tạo điều kiện để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm uy tín đầu tư lâu dài

(TBTCO) - Tiếp và làm việc với đoàn lãnh đạo cấp cao của Tập đoàn Bảo hiểm FWD, Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận khẳng định, Việt Nam luôn sẵn sàng đồng hành, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tập đoàn tài chính - bảo hiểm quốc tế uy tín như FWD đầu tư lâu dài, đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

BAC A BANK tiếp tục được vinh danh tại ASEAN Award 2026

(TBTCO) - Mới đây, tại Singapore đã diễn ra Lễ công bố và trao giải ASEAN Award 2026. Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) đã được vinh danh Top 10 Doanh nghiệp tiêu biểu ASEAN 2026. Cùng với đó, Anh hùng Lao động Thái Hương - Tổng Giám đốc BAC A BANK được trao danh hiệu Top 10 Nhà Lãnh đạo xuất sắc ASEAN 2026. Đây là sự ghi nhận đối với những nỗ lực của BAC A BANK và dấu ấn của đội ngũ lãnh đạo trong quá trình xây dựng nền tảng phát triển ổn định, hiệu quả và bền vững.
Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm đối thủ mới, cuộc đua thị phần "nóng" thêm

Bảo hiểm phi nhân thọ đón thêm đối thủ mới, cuộc đua thị phần "nóng" thêm

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam vừa có thêm hai gương mặt mới là VietSure Insurance (VSI) và ACB Insurance, nâng tổng số doanh nghiệp trong khối lên con số 34. Được đánh giá vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng, ngành bảo hiểm phi nhân thọ đang trở thành điểm đến hấp dẫn với cả nhà đầu tư trong và ngoài nước, nhưng mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 147,200 150,200
Hà Nội - PNJ 147,200 150,200
Đà Nẵng - PNJ 147,200 150,200
Miền Tây - PNJ 147,200 150,200
Tây Nguyên - PNJ 147,200 150,200
Đông Nam Bộ - PNJ 147,200 150,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,730 15,030
Miếng SJC Nghệ An 14,730 15,030
Miếng SJC Thái Bình 14,730 15,030
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 15,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 15,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 15,150
NL 99.99 14,200
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,460 15,060
Trang sức 99.99 14,470 15,070
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,473 15,032
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,473 15,033
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,468 1,498
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,468 1,499
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,443 1,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,327 147,327
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,961 111,761
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,544 101,344
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,127 90,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,109 86,909
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,406 62,206
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,473 1,503
Cập nhật: 27/08/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18206 18481 19058
CAD 18289 18565 19182
CHF 31799 32180 32833
CNY 0 3841 3937
EUR 29805 30027 31110
GBP 34744 35137 36075
HKD 0 3199 3402
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15226 15817
SGD 20004 20286 20866
THB 712 775 828
USD (1,2) 25838 0 0
USD (5,10,20) 25878 0 0
USD (50,100) 25906 25920 26290
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,900 25,900 26,280
USD(1-2-5) 24,864 - -
USD(10-20) 24,864 - -
EUR 29,858 29,882 31,298
JPY 159.61 159.9 169.57
GBP 34,931 35,026 36,236
AUD 18,397 18,463 19,162
CAD 18,471 18,530 19,214
CHF 32,086 32,186 33,136
SGD 20,122 20,185 20,974
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,261 3,271 3,408
KRW 17.38 18.13 19.72
THB 759.53 768.91 823.52
NZD 15,208 15,349 15,801
SEK - 2,704 2,799
DKK - 4,004 4,146
NOK - 2,744 2,844
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,057.25 - 6,841.77
TWD 740.64 - 897.27
SAR - 6,829.72 7,193.83
KWD - 82,738 88,035
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,867 29,987 31,184
GBP 34,929 35,069 36,107
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,906 32,034 32,970
JPY 159.94 160.58 168.56
AUD 18,378 18,452 19,048
SGD 20,180 20,261 20,859
THB 777 780 817
CAD 18,473 18,547 19,139
NZD 15,261 15,808
KRW 18.02 20
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25920 25920 26280
AUD 18392 18492 19417
CAD 18474 18574 19585
CHF 32074 32104 33687
CNY 3823.6 3848.6 3983.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30004 30034 31760
GBP 35071 35121 36878
HKD 0 3330 0
JPY 160.67 161.17 171.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15342 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20174 20304 21027
THB 0 741.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14750000 14750000 15050000
SBJ 13000000 13000000 15050000
Cập nhật: 27/08/2026 01:00
Ngân hàng