Triển vọng tích cực năm 2025, ngành ngân hàng tăng trưởng lợi nhuận 15%

VCBS dự báo tốc độ tăng trưởng tín dụng duy trì đà tăng trưởng khả quan trong năm 2025 đến từ ba động lực chính, NIM được dự báo tăng nhẹ. Lợi nhuận duy trì tăng trưởng khoảng 15%, triển vọng hồi phục nhanh ở nhóm ngân hàng tư nhân năng động.
aa

Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS) vừa phát hành báo cáo triển vọng 2025 với tựa đề “Đón đầu kỷ nguyên vươn mình”. Với ngành ngân hàng, nhóm phân tích từ VCBS cho rằng, việc duy trì lãi suất ở mặt bằng thấp, cải thiện khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân là định hướng xuyên suốt và được ưu tiên của Ngân hàng Nhà nước trong năm nay.

Lợi nhuận nhóm tư nhân năng động bật tăng 20%

Đánh giá về triển vọng 2025, VCBS nhận định, lợi nhuận nhóm ngân hàng duy trì tăng trưởng, triển vọng tích cực. Tốc độ tăng trưởng tín dụng duy trì khả quan do tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2024 có thể đạt mục tiêu 15%, với kỳ vọng các ngân hàng đẩy mạnh cho vay cá nhân trong quý IV, nhất là các ngân hàng tư nhân năng động quy mô trung bình nhỏ còn nhiều dư địa tăng trưởng tín dụng.

Lợi nhuận toàn ngành đạt mức 15%
Triển vọng tích cực năm 2025, ngành ngân hàng tăng trưởng lợi nhuận 15%.

Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng tín dụng dự báo tiếp tục duy trì mức khả quan trong năm 2025 đến từ ba nhân tố.

Ba nhân tố giúp tín dụng giữ đà tăng

VCBS chỉ rõ, một là mặt bằng lãi suất thấp hỗ trợ tạo lực đẩy cho nhu cầu vay vốn. Hai là, tín dụng bán lẻ tăng tốc với lực đẩy từ hoạt động kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng, trong khi cho vay mua nhà cũng có dấu hiệu hồi phục khả quan. Ba là, tín dụng bán buôn duy trì ổn định nhờ hoạt động sản xuất, xuất khẩu tích cực, thúc đẩy giải ngân đầu tư công và thị trường bất động sản tiếp đà hồi phục kéo theo tăng trưởng tín dụng các phân khúc cho vay doanh nghiệp bất động sản, xây dựng và vật liệu xây dựng.

Cũng theo VCBS, NIM (biên lãi ròng) tăng nhẹ trong năm 2025 khi chi phí vốn được hỗ trợ bởi mặt bằng lãi suất huy động duy trì mức thấp. Đồng thời, kỳ vọng tỷ giá hạ nhiệt kéo giảm lãi suất trên thị trường 2 (thị trường tiền tệ liên ngân hàng), trong khi dư địa giảm tiếp lãi suất đầu ra không còn nhiều.

Từ những phân tích trên, VCBS dự báo lợi nhuận trước thuế ngành ngân hàng tiếp tục giữ đà tăng trưởng đạt mức khoảng 15% trong cả năm 2024 và có sự phân hóa về triển vọng lợi nhuận giữa các nhóm ngân hàng. Lợi nhuận tiếp tục có sự phân hóa trong 2025 với mức tăng trưởng khoảng 15% và triển vọng hồi phục nhanh ở nhóm ngân hàng tư nhân năng động, có thể tăng trưởng 20%.

"Tiềm năng mở rộng NIM mạnh mẽ thuộc về nhóm ngân hàng tư nhân có thế mạnh về bán lẻ và tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA), có chất lượng tài sản tốt, tập khách hàng có khả năng trả nợ hồi phục nhanh chóng" - VCBS nhận định.

Tín dụng bán lẻ tăng tốc, trái ngược sự nhọc nhằn năm nay

Theo đánh giá của VCBS, triển vọng đầu tư cổ phiếu ngành ngân hàng đang ở mức phù hợp thị trường khi định giá P/B (giá trị thị trường của cổ phiếu/giá trị sổ sách) toàn ngành hiện thấp hơn khoảng 9% so với mức trung bình 5 năm.

Nhóm cổ phiếu có thể xem xét đầu tư trong dài hạn là các ngân hàng có chất lượng tài sản tốt và duy trì tốc độ tăng trưởng vượt trội so với ngành, bao gồm: ACB, Vietinbank, HDBank, MB, MSB, Nam A Bank, OCB, SacomBank, Techcombank, VIB.

Trong đó, ACB là ngân hàng thương mại cổ phần có hoạt động tập trung chủ yếu ở mảng bán lẻ và doanh nghiệp vừa và nhỏ với sự đa dạng trong các loại hình dịch vụ kinh doanh. Bên cạnh đó, ngân hàng duy trì hiệu quả sinh lời cao và chất lượng tài sản lành mạnh so với mặt bằng chung của ngành.

Về kết quả kinh doanh 9 tháng 2024, ACB ghi nhận tổng thu nhập hoạt động đạt 24.956 tỷ đồng, tăng 2,41% so với cùng kỳ. Trong đó thu nhập lãi thuần đạt hơn 20.714 tỷ đồng, tăng 10,95%; thu nhập ngoài lãi đạt 4.242 tỷ đồng, giảm sâu 25,55%. Chi phí trích lập dự phòng giảm nhẹ, ghi nhận ở mức 1.459 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế tăng nhẹ 2,1% so với cùng kỳ, đạt 15.335 tỷ đồng.

Tín dụng tiếp tục tăng trưởng tích cực trong những tháng cuối năm 2024 và 2025 với động lực đến từ sự hồi phục rõ nét của nhóm khách hàng cá nhân trong khi nhu cầu tín dụng nhóm khách hàng doanh nghiệp vẫn giữ mức tăng trưởng khả quan nhờ nền kinh tế kỳ vọng có những diễn biến thuận lợi hơn.

Theo VCBS, NIM của ACB kỳ vọng được cải thiện trong thời gian tới nhờ thứ nhất, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn ở mức thấp, tính đến quý III/2024 ghi nhận ở mức 20,7% và thấp hơn tương đối so với mức trần quy định. Do đó ngân hàng có nhiều dư địa để gia tăng nguồn huy động vốn ngắn hạn, giúp giảm bớt áp lực lên chi phí vốn. Thứ hai, áp lực cạnh tranh về lãi suất cho vay giữa các ngân hàng được giảm bớt.

Cùng với đó, hiệu quả sinh lời ở mức cao nhờ kiểm soát tốt chi phí và chất lượng tài sản. Ngân hàng duy trì được một danh mục cho vay với tệp khách hàng trung thành và chất lượng tốt nhờ chiến lược giải ngân tương đối thận trọng, cùng với cơ chế lãi suất cho vay cạnh tranh. Vì vậy, VCBS cho rằng, mặc dù tỷ lệ nợ xấu có xu hướng tăng trong giai đoạn 2023-2024 nhưng chất lượng tài sản vẫn được kiểm soát mức tốt so với trung bình ngành.

Lợi nhuận toàn ngành đạt mức 15%
Tín dụng bán lẻ tăng tốc với lực đẩy từ hoạt động kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng, trong khi cho vay mua nhà cũng có dấu hiệu hồi phục khả quan.
VCBS kỳ vọng VIB hồi phục từ mức nền thấp. Trong đó, mảng cho vay mua nhà ở sẽ là động lực dẫn dắt tăng trưởng với sự hỗ trợ từ mặt bằng lãi suất cho vay được kỳ vọng tiếp tục duy trì ở mức thấp và nguồn cung bất động sản có sự cải thiện. Các mảng kinh doanh khác được kỳ vọng giữ mức tăng trưởng khả quan với lợi thế cạnh tranh ở mảng thẻ và mảng cho vay mua ô tô.

Còn VIB là ngân hàng thương mại cổ phần có tỷ trọng bán lẻ thuộc top đầu ngành với tỷ lệ gần 90% danh mục tín dụng và liên tục dẫn đầu thị phần trong các mảng kinh doanh trọng yếu như cho vay mua nhà, mua ô tô, thẻ tín dụng...

Về kết quả kinh doanh 9 tháng 2024, VIB ghi nhận tổng thu nhập hoạt động đạt 15.294 tỷ đồng, giảm 6,28% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nhập lãi thuần đạt hơn 12.677 tỷ đồng, giảm 8,33%; thu nhập ngoài lãi đạt 3.249 tỷ đồng, giảm 1,18%. Chi phí trích lập dự phòng tăng nhẹ gần 2,5% so với cùng kỳ, ghi nhận ở mức 3.231 tỷ đồng khiến lợi nhuận trước thuế giảm gần 21% so với cùng kỳ, đạt 6.603 tỷ đồng.

Thu nhập ngoài lãi kỳ vọng giữ mức tăng trưởng khả quan nhờ sự hồi phục của thị trường bảo hiểm, các hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ.

NIM của VIB được kỳ vọng được cải thiện trong thời gian tới nhờ thứ nhất, tỷ lệ cho vay bán lẻ ở mức cao với sản phẩm chủ yếu là cho vay mua nhà giúp ngân hàng có thể khai thác các khoản vay với lãi suất cao hơn so với mặt bằng chung. Thứ hai, áp lực cạnh tranh về lãi suất cho vay giữa các ngân hàng kỳ vọng được giảm bớt. Thứ ba, sự năng động và linh hoạt trong hoạt động huy động vốn giúp giảm bớt áp lực phụ thuộc vào kênh huy động tiền gửi từ khách hàng trong bối cảnh lãi suất huy động có thể tiếp tục xu hướng tăng trong thời gian tới.

VCBS cũng lưu ý rủi ro nợ xấu của VIB khi năm 2024 dự báo là 3,74% và năm 2025 ở mức 3,45%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

(TBTCO) - Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank – mã HOSE: LPB) vừa công bố Báo cáo Tài chính quý III với nhiều điểm nhấn đáng chú ý. Tính đến ngày 30/9/2026, Ngân hàng đạt 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế lũy kế, tổng tài sản đạt 694.183 tỷ đồng, tăng trưởng tương ứng gần 9% và 29% so với cùng kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

(TBTCO) - Sáng 21/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.634 đồng, trong khi DXY tăng nhẹ 0,08% lên 101,78 điểm. Thị trường đánh giá khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất trong tháng 10 tương đối thấp, song xác suất tăng lãi suất vào tháng 12 vượt 90% tại Mỹ và khoảng 80% với Nhật Bản.
Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, với vàng miếng giảm 200.000 - 500.000 đồng/lượng và vàng nhẫn giảm 200.000 - 1,1 triệu đồng/lượng. Giá vàng thế giới cũng mất gần 11 USD/ounce, lùi về 4.132 USD/ounce.
IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

(TBTCO) - Giữa nhiều biến động kinh tế toàn cầu, Việt Nam vẫn tăng trưởng nổi bật, được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nâng dự báo GDP. Để duy trì thành quả này, IMF nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình, nâng cao chất lượng tăng trưởng, đồng thời khuyến nghị củng cố bộ đệm tài khóa và kiểm soát lạm phát trước những rủi ro toàn cầu.
Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay thực chất, không cào bằng mà cần lựa chọn đúng đối tượng. Nhiều ngân hàng nhanh chóng công bố các gói tín dụng ưu đãi, giảm lãi suất cho vay tới 2%, với mức lãi suất từ 6%/năm, đồng thời chấp nhận giảm thu nhập để hỗ trợ doanh nghiệp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,400 141,400
Hà Nội - PNJ 138,400 141,400
Đà Nẵng - PNJ 138,400 141,400
Miền Tây - PNJ 138,400 141,400
Tây Nguyên - PNJ 138,400 141,400
Đông Nam Bộ - PNJ 138,400 141,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,930 14,230
Miếng SJC Nghệ An 13,930 14,230
Miếng SJC Thái Bình 13,930 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,830 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,830 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,830 14,230
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,510 14,110
Trang sức 99.99 13,520 14,120
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,393 14,232
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,393 14,233
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,374 1,409
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,374 141
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,354 1,399
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,515 138,515
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,285 105,085
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,492 95,292
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,698 85,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,192 8,172
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,694 58,494
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cập nhật: 22/10/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17655 17928 18507
CAD 17885 18159 18778
CHF 30710 31086 31724
CNY 0 3830 3927
EUR 28413 28629 29720
GBP 33830 34219 35152
HKD 0 3164 3367
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14411 14996
SGD 19702 19984 20553
THB 685 748 801
USD (1,2) 25595 0 0
USD (5,10,20) 25634 0 0
USD (50,100) 25661 25675 26045
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,690 25,690 26,070
USD(1-2-5) 24,663 - -
USD(10-20) 24,663 - -
EUR 28,466 28,489 29,844
JPY 159.15 159.44 169.08
GBP 33,985 34,077 35,258
AUD 17,821 17,885 18,565
CAD 18,060 18,118 18,786
CHF 30,959 31,055 31,968
SGD 19,826 19,888 20,678
CNY - 3,800 3,945
HKD 3,230 3,240 3,377
KRW 18.01 18.78 20.44
THB 733.02 742.07 794.12
NZD 14,368 14,501 14,933
SEK - 2,567 2,658
DKK - 3,818 3,954
NOK - 2,705 2,803
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,924.28 - 6,688.93
TWD 720.08 - 872.45
SAR - 6,779.95 7,142.82
KWD - 81,747 86,992
AED - 6,790 7,318
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,458 28,601 29,825
GBP 33,958 34,129 35,165
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,780 30,935 31,878
JPY 158.61 160.21 168.19
AUD 17,768 17,893 18,491
SGD 19,804 19,984 20,579
THB 738 753 790
CAD 18,016 18,143 18,742
NZD 14,447 15,004
KRW 18.83 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25650 25680 26040
AUD 17819 17919 18842
CAD 18049 18149 19162
CHF 30923 30953 32530
CNY 3813.5 3838.5 3973.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28568 28598 30320
GBP 34139 34189 35960
HKD 0 3300 0
JPY 160.04 160.54 171.05
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14504 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19853 19983 20706
THB 0 714 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13950000 13950000 14250000
SBJ 12500000 12500000 14250000
Cập nhật: 22/10/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30