Triển vọng tích cực năm 2025, ngành ngân hàng tăng trưởng lợi nhuận 15%

Ánh Tuyết
VCBS dự báo tốc độ tăng trưởng tín dụng duy trì đà tăng trưởng khả quan trong năm 2025 đến từ ba động lực chính, NIM được dự báo tăng nhẹ. Lợi nhuận duy trì tăng trưởng khoảng 15%, triển vọng hồi phục nhanh ở nhóm ngân hàng tư nhân năng động.
aa

Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS) vừa phát hành báo cáo triển vọng 2025 với tựa đề “Đón đầu kỷ nguyên vươn mình”. Với ngành ngân hàng, nhóm phân tích từ VCBS cho rằng, việc duy trì lãi suất ở mặt bằng thấp, cải thiện khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân là định hướng xuyên suốt và được ưu tiên của Ngân hàng Nhà nước trong năm nay.

Lợi nhuận nhóm tư nhân năng động bật tăng 20%

Đánh giá về triển vọng 2025, VCBS nhận định, lợi nhuận nhóm ngân hàng duy trì tăng trưởng, triển vọng tích cực. Tốc độ tăng trưởng tín dụng duy trì khả quan do tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2024 có thể đạt mục tiêu 15%, với kỳ vọng các ngân hàng đẩy mạnh cho vay cá nhân trong quý IV, nhất là các ngân hàng tư nhân năng động quy mô trung bình nhỏ còn nhiều dư địa tăng trưởng tín dụng.

Lợi nhuận toàn ngành đạt mức 15%
Triển vọng tích cực năm 2025, ngành ngân hàng tăng trưởng lợi nhuận 15%.

Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng tín dụng dự báo tiếp tục duy trì mức khả quan trong năm 2025 đến từ ba nhân tố.

Ba nhân tố giúp tín dụng giữ đà tăng

VCBS chỉ rõ, một là mặt bằng lãi suất thấp hỗ trợ tạo lực đẩy cho nhu cầu vay vốn. Hai là, tín dụng bán lẻ tăng tốc với lực đẩy từ hoạt động kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng, trong khi cho vay mua nhà cũng có dấu hiệu hồi phục khả quan. Ba là, tín dụng bán buôn duy trì ổn định nhờ hoạt động sản xuất, xuất khẩu tích cực, thúc đẩy giải ngân đầu tư công và thị trường bất động sản tiếp đà hồi phục kéo theo tăng trưởng tín dụng các phân khúc cho vay doanh nghiệp bất động sản, xây dựng và vật liệu xây dựng.

Cũng theo VCBS, NIM (biên lãi ròng) tăng nhẹ trong năm 2025 khi chi phí vốn được hỗ trợ bởi mặt bằng lãi suất huy động duy trì mức thấp. Đồng thời, kỳ vọng tỷ giá hạ nhiệt kéo giảm lãi suất trên thị trường 2 (thị trường tiền tệ liên ngân hàng), trong khi dư địa giảm tiếp lãi suất đầu ra không còn nhiều.

Từ những phân tích trên, VCBS dự báo lợi nhuận trước thuế ngành ngân hàng tiếp tục giữ đà tăng trưởng đạt mức khoảng 15% trong cả năm 2024 và có sự phân hóa về triển vọng lợi nhuận giữa các nhóm ngân hàng. Lợi nhuận tiếp tục có sự phân hóa trong 2025 với mức tăng trưởng khoảng 15% và triển vọng hồi phục nhanh ở nhóm ngân hàng tư nhân năng động, có thể tăng trưởng 20%.

"Tiềm năng mở rộng NIM mạnh mẽ thuộc về nhóm ngân hàng tư nhân có thế mạnh về bán lẻ và tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA), có chất lượng tài sản tốt, tập khách hàng có khả năng trả nợ hồi phục nhanh chóng" - VCBS nhận định.

Tín dụng bán lẻ tăng tốc, trái ngược sự nhọc nhằn năm nay

Theo đánh giá của VCBS, triển vọng đầu tư cổ phiếu ngành ngân hàng đang ở mức phù hợp thị trường khi định giá P/B (giá trị thị trường của cổ phiếu/giá trị sổ sách) toàn ngành hiện thấp hơn khoảng 9% so với mức trung bình 5 năm.

Nhóm cổ phiếu có thể xem xét đầu tư trong dài hạn là các ngân hàng có chất lượng tài sản tốt và duy trì tốc độ tăng trưởng vượt trội so với ngành, bao gồm: ACB, Vietinbank, HDBank, MB, MSB, Nam A Bank, OCB, SacomBank, Techcombank, VIB.

Trong đó, ACB là ngân hàng thương mại cổ phần có hoạt động tập trung chủ yếu ở mảng bán lẻ và doanh nghiệp vừa và nhỏ với sự đa dạng trong các loại hình dịch vụ kinh doanh. Bên cạnh đó, ngân hàng duy trì hiệu quả sinh lời cao và chất lượng tài sản lành mạnh so với mặt bằng chung của ngành.

Về kết quả kinh doanh 9 tháng 2024, ACB ghi nhận tổng thu nhập hoạt động đạt 24.956 tỷ đồng, tăng 2,41% so với cùng kỳ. Trong đó thu nhập lãi thuần đạt hơn 20.714 tỷ đồng, tăng 10,95%; thu nhập ngoài lãi đạt 4.242 tỷ đồng, giảm sâu 25,55%. Chi phí trích lập dự phòng giảm nhẹ, ghi nhận ở mức 1.459 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế tăng nhẹ 2,1% so với cùng kỳ, đạt 15.335 tỷ đồng.

Tín dụng tiếp tục tăng trưởng tích cực trong những tháng cuối năm 2024 và 2025 với động lực đến từ sự hồi phục rõ nét của nhóm khách hàng cá nhân trong khi nhu cầu tín dụng nhóm khách hàng doanh nghiệp vẫn giữ mức tăng trưởng khả quan nhờ nền kinh tế kỳ vọng có những diễn biến thuận lợi hơn.

Theo VCBS, NIM của ACB kỳ vọng được cải thiện trong thời gian tới nhờ thứ nhất, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn ở mức thấp, tính đến quý III/2024 ghi nhận ở mức 20,7% và thấp hơn tương đối so với mức trần quy định. Do đó ngân hàng có nhiều dư địa để gia tăng nguồn huy động vốn ngắn hạn, giúp giảm bớt áp lực lên chi phí vốn. Thứ hai, áp lực cạnh tranh về lãi suất cho vay giữa các ngân hàng được giảm bớt.

Cùng với đó, hiệu quả sinh lời ở mức cao nhờ kiểm soát tốt chi phí và chất lượng tài sản. Ngân hàng duy trì được một danh mục cho vay với tệp khách hàng trung thành và chất lượng tốt nhờ chiến lược giải ngân tương đối thận trọng, cùng với cơ chế lãi suất cho vay cạnh tranh. Vì vậy, VCBS cho rằng, mặc dù tỷ lệ nợ xấu có xu hướng tăng trong giai đoạn 2023-2024 nhưng chất lượng tài sản vẫn được kiểm soát mức tốt so với trung bình ngành.

Lợi nhuận toàn ngành đạt mức 15%
Tín dụng bán lẻ tăng tốc với lực đẩy từ hoạt động kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng, trong khi cho vay mua nhà cũng có dấu hiệu hồi phục khả quan.
VCBS kỳ vọng VIB hồi phục từ mức nền thấp. Trong đó, mảng cho vay mua nhà ở sẽ là động lực dẫn dắt tăng trưởng với sự hỗ trợ từ mặt bằng lãi suất cho vay được kỳ vọng tiếp tục duy trì ở mức thấp và nguồn cung bất động sản có sự cải thiện. Các mảng kinh doanh khác được kỳ vọng giữ mức tăng trưởng khả quan với lợi thế cạnh tranh ở mảng thẻ và mảng cho vay mua ô tô.

Còn VIB là ngân hàng thương mại cổ phần có tỷ trọng bán lẻ thuộc top đầu ngành với tỷ lệ gần 90% danh mục tín dụng và liên tục dẫn đầu thị phần trong các mảng kinh doanh trọng yếu như cho vay mua nhà, mua ô tô, thẻ tín dụng...

Về kết quả kinh doanh 9 tháng 2024, VIB ghi nhận tổng thu nhập hoạt động đạt 15.294 tỷ đồng, giảm 6,28% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nhập lãi thuần đạt hơn 12.677 tỷ đồng, giảm 8,33%; thu nhập ngoài lãi đạt 3.249 tỷ đồng, giảm 1,18%. Chi phí trích lập dự phòng tăng nhẹ gần 2,5% so với cùng kỳ, ghi nhận ở mức 3.231 tỷ đồng khiến lợi nhuận trước thuế giảm gần 21% so với cùng kỳ, đạt 6.603 tỷ đồng.

Thu nhập ngoài lãi kỳ vọng giữ mức tăng trưởng khả quan nhờ sự hồi phục của thị trường bảo hiểm, các hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ.

NIM của VIB được kỳ vọng được cải thiện trong thời gian tới nhờ thứ nhất, tỷ lệ cho vay bán lẻ ở mức cao với sản phẩm chủ yếu là cho vay mua nhà giúp ngân hàng có thể khai thác các khoản vay với lãi suất cao hơn so với mặt bằng chung. Thứ hai, áp lực cạnh tranh về lãi suất cho vay giữa các ngân hàng kỳ vọng được giảm bớt. Thứ ba, sự năng động và linh hoạt trong hoạt động huy động vốn giúp giảm bớt áp lực phụ thuộc vào kênh huy động tiền gửi từ khách hàng trong bối cảnh lãi suất huy động có thể tiếp tục xu hướng tăng trong thời gian tới.

VCBS cũng lưu ý rủi ro nợ xấu của VIB khi năm 2024 dự báo là 3,74% và năm 2025 ở mức 3,45%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. Doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến từ 3 - 4 triệu đồng/lượng. Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lùi về vùng 146,2 - 150,2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (6/6): Tỷ giá trung tâm tăng 4 tuần, DXY vượt 100 điểm khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/6): Tỷ giá trung tâm tăng 4 tuần, DXY vượt 100 điểm khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng ngày 6/6, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.147 đồng, tăng 9 đồng trong tuần, đánh dấu tuần tăng thứ 4 liên tiếp. Chỉ số DXY kết tuần tại 100,06 điểm, tăng 0,65% và lên mức cao nhất gần 2 tháng, sau khi dữ liệu việc làm Mỹ vượt kỳ vọng, qua đó, củng cố khả năng Fed có thể tăng 0,25 điểm phần trăm lãi suất vào tháng 12.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Kim TT/AVPL 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,270 ▼610K 13,830 ▼550K
Nguyên Liệu 99.99 13,350 ▼450K 13,550 ▼450K
Nguyên Liệu 99.9 13,300 ▼450K 13,500 ▼450K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 ▼400K 13,800 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 ▼400K 13,750 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 ▼400K 13,730 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Nghệ An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Thái Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,020 ▼550K 13,720 ▼550K
Trang sức 99.99 13,030 ▼550K 13,730 ▼550K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 ▼54K 1,382 ▼54K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 ▼54K 1,383 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 ▼54K 1,367 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▼5346K 135,347 ▼5346K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 ▼4051K 102,685 ▼4051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 ▼3673K 93,115 ▼3673K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 ▲66311K 83,545 ▲74861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 ▼3149K 79,854 ▼3149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 ▼45146K 5,716 ▼53696K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17920 18194 18769
CAD 18365 18641 19254
CHF 32303 32686 33333
CNY 0 3841 3934
EUR 29784 30006 31084
GBP 34444 34835 35767
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14991 15578
SGD 19903 20185 20757
THB 716 779 832
USD (1,2) 26055 0 0
USD (5,10,20) 26096 0 0
USD (50,100) 26125 26139 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26410
AUD 18124 18224 19154
CAD 18527 18627 19638
CHF 32585 32615 34193
CNY 3824.4 3849.4 3984.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29951 29981 31706
GBP 34740 34790 36548
HKD 0 3355 0
JPY 160.56 161.06 171.59
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15106 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20053 20183 20914
THB 0 745 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 12000000 12000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80