Dự báo tín dụng trụ vững trước sóng thuế quan Mỹ, tỷ giá đối mặt áp lực ngắn hạn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thống kê cho thấy, dư nợ FDI và xuất khẩu chỉ chiếm tỷ trọng 7% toàn hệ thống, vì vậy, các ngân hàng vẫn có khả năng chống chịu tốt trước rủi ro từ chính sách thuế quan mới của Mỹ. Tuy nhiên, tỷ giá có thể chịu áp lực biến động nhất định trong ngắn hạn.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 31/3 - 4/4: "Bão" thuế quan từ Mỹ đẩy tỷ giá lên đỉnh mới Mỹ áp thuế đối ứng 46%: Doanh nghiệp cần bình tĩnh và chủ động Thủ tướng: Đề nghị Hoa Kỳ hoãn áp dụng thuế quan mới ít nhất 45 ngày để có thời gian trao đổi

Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS) vừa đưa ra một số bình luận về động thái áp thuế từ Mỹ và ảnh hưởng lên một số ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán.

Khách hàng FDI và xuất khẩu chiếm 7% dư nợ toàn ngành

Ngày 2/4, Tổng thống Trump công bố sắc lệnh áp thuế 10% với toàn bộ hàng hoá từ tất cả các quốc gia, có hiệu lực từ ngày 5/4/2025. Bên cạnh đó, Mỹ sẽ áp thuế đối ứng, hiệu lực từ ngày 9/4, đối với hàng hóa từ các quốc gia/vùng lãnh thổ mà Mỹ có thâm hụt thương mại lớn, loại trừ một số mặt hàng có tầm quan trọng với kinh tế và an ninh quốc gia của Mỹ.

Thuế quan áp dụng dựa trên đánh giá về khả năng thao túng tiền tệ và rào cản thương mại từ Việt Nam là 90% và thuế đối ứng mà quốc gia này áp cho Việt Nam là 46%. Theo đó, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia bị đánh thuế cao nhất, dự kiến mức thuế này sẽ tiếp tục có sự thay đổi sau cuộc đàm phán vào ngày 9/4.

Dự báo tín dụng trụ vững trước sóng thuế quan Mỹ, tỷ giá đối mặt áp lực ngắn hạn
Dự báo tín dụng trụ vững trước sóng thuế quan Mỹ, tỷ giá đối mặt áp lực ngắn hạn. Ảnh tư liệu.
"Tuy nhiên, tác động không quá lớn do tổng dư nợ cho vay xuất khẩu chỉ chiếm trên 5% dư nợ toàn hệ thống, dư nợ FDI chiếm khoảng 2%. Các ngân hàng có dư nợ xuất nhập khẩu, FDI lớn là nhóm ngân hàng quốc doanh (Vietcombank, Vietinbank, BIDV). Một số ngân hàng đang tập trung đẩy mạnh tiếp cận nhóm FDI như: VPBank, Techcombank, MB cũng sẽ gặp những thách thức ngắn hạn trong việc mở rộng tín dụng mảng này" - VCBS đánh giá.

Theo đánh giá của VCBS, các ngân hàng chịu ảnh hưởng gián tiếp khi thu nhập các doanh nghiệp liên quan giảm sút ảnh hưởng đến dòng tiền trả nợ cũng như nhu cầu tín dụng.

Thống kê của TBTCVN cũng cho thấy, dư nợ cho vay đối với các doanh nghiệp FDI hiện đang phân bổ không đồng đều, chủ yếu tập trung tại các ngân hàng quốc doanh.

Tính đến cuối năm 2024, Vietcombank dẫn đầu với dư nợ FDI đạt 147.778 tỷ đồng, tương đương 10,2% tổng dư nợ. Tiếp theo là VietinBank với 99.486 tỷ đồng (5,78%), BIDV đạt 72.708 tỷ đồng (3,54%).

Thống kê tại khối ngân hàng thương mại cổ phần, dù đang tích cực mở rộng tiếp cận nhóm khách hàng FDI, tỷ trọng dư nợ vẫn ở mức thấp. Đơn cử, MB là 18.816 tỷ đồng (2,42%); Techcombank đạt 12.167 tỷ đồng (2,01%); VPBank ghi nhận dư nợ FDI ở mức 3.770 tỷ đồng (0,54%).

Lo biến động tỷ giá ngắn hạn

Trả lời câu hỏi của cổ đông tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2025 được tổ chức ngày 8/4, ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB nhận định, chính sách thuế đối ứng của Tổng thống Mỹ có thể tạo ra những tác động nhất định đối với nền kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam, có thể gây tác động đến tổng cầu, tỷ giá, dòng vốn đầu tư và tốc độ tăng trưởng tín dụng trong nước.

Giữ nguyên mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức cao

"Chúng tôi thấy rằng các chính sách thuế mà Mỹ vừa đưa ra chưa có ảnh hưởng sâu sắc đến danh mục khách hàng cho vay của ACB. Do đó, dù thị trường đang tồn tại những khó khăn thách thức từ chính sách thuế quan của Mỹ, song chúng tôi vẫn giữ nguyên mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm nay ở mức 16-18%” - lãnh đạo ACB khẳng định.

Tuy nhiên, ngay sau khi các chính sách thuế quan mới của Mỹ được công bố, ACB chủ động xây dựng các kịch bản ứng phó và sẵn sàng thích ứng với mọi biến động của thị trường. Về danh mục khách hàng, dư nợ tín dụng của ACB dành cho khách hàng cá nhân chiếm tới 65% tổng dư nợ, trong khi nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 29%.

Riêng nhóm khách hàng là doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp FDI, vốn chiếm tới 50% quy mô tín dụng của toàn thị trường nhưng tại ACB chỉ chiếm khoảng 9% tổng danh mục cho vay.

Tính đến cuối năm 2024, nhóm khách hàng FDI mới chiếm khoảng 1% tỷ trọng trong tổng dư nợ 580.686 tỷ đồng, tương ứng cho vay 5.386,5 tỷ đồng tại ACB. Theo lãnh đạo ACB, đây là một phân khúc giàu tiềm năng và còn nhiều dư địa để phát triển mở rộng.

Việc duy trì tỷ trọng dư nợ FDI ở mức thấp giúp giảm thiểu nguy cơ lan rộng rủi ro tín dụng từ nhóm doanh nghiệp nhạy cảm với biến động thương mại.

Cũng theo VCBS, các yếu tố ổn định vĩ mô như: lạm phát, tỷ giá và lãi suất vẫn sẽ được đảm bảo, song tỷ giá có thể chịu áp lực nhất định trong thời gian tới.

"Trong bối cảnh các yếu tố bất định và chưa có kết quả cuối cùng về các quyết định áp thuế quan, tỷ giá sẽ biến động nhiều hơn trong ngắn hạn. Các lo ngại về rủi ro thuế quan có thể khiến dòng vốn đầu tư đăng ký và giải ngân chậm lại. Ngoài ra, các hoạt động xuất khẩu (đặc biệt xuất khẩu tới thị trường Mỹ) có thể chậm lại và thậm chí chịu thiệt hại. Trong khi đó, dự trữ ngoại hối của Việt Nam ở thời điểm hiện tại khá hạn chế" - VCBS đánh giá.

Dự báo tín dụng trụ vững trước sóng thuế quan Mỹ, tỷ giá đối mặt áp lực ngắn hạn
Nguồn: VCBS.

Mặc dù vậy, VCBS vẫn kỳ vọng chính sách tiền tệ có thể được điều hành theo chiều hướng tạo điều kiện thuận lợi để hỗ trợ các doanh nghiệp và hướng tới mục tiêu tăng trưởng bền vững. Khác với một số quốc gia có động thái trả đũa ngay lập tức, hiện Việt Nam lựa chọn cách tiếp cận thận trọng và cân nhắc dài hạn, tránh căng thẳng thương mại và không trả đũa ngay lập tức.

Việt Nam cũng đề xuất phía Mỹ xem xét hoãn áp dụng thuế đối với hàng hóa Việt Nam trong thời gian tối thiểu 45 ngày nhằm tạo điều kiện cho quá trình đàm phán, chuẩn bị và chuyển tiếp phù hợp. Đồng thời, Việt Nam mong muốn thúc đẩy tiếp cận và đối thoại với phía Mỹ để tiến tới một thỏa thuận song phương, hướng tới cân bằng thương mại bền vững, cùng có lợi.

Mục tiêu là đảm bảo lợi ích hài hòa giữa hai quốc gia, chia sẻ rủi ro, đem lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng của cả hai bên, đồng thời không làm phương hại đến các cam kết quốc tế mà Việt Nam đang thực hiện.

Bên cạnh các động thái đang được đàm phàn và thương thảo, Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục tập trung và củng cố nội lực tăng trưởng trong nước, được kể đến như: đẩy mạnh đầu tư công, thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng, dịch vụ; tất cả hướng đến mục tiêu tăng trưởng bền vững trong giai đoạn sắp tới./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80