Eximbank rơi từ trên mây?

Thùy Vân
Lần đầu tiên sau nhiều năm Eximbank bị lỗ lớn. Một cú rơi không nhiều bất ngờ.
aa

eximbank

Tỷ lệ thực hiện lợi nhuận của Eximbank trong năm 2013 chỉ đạt chưa đầy 26% kế hoạch. Ảnh: T.L

Cuối tuần qua, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) công bố báo cáo tài chính quý 4/2013. Sau những đồn đoán, cú rơi đã chính thức xuất hiện.

Một trời một vực

Báo cáo kết quả kinh doanh cho thấy, tổng lợi nhuận trước thuế quý 4/2013 của Eximbank lỗ tới 328,1 tỷ đồng, kéo lợi nhuận trước thuế cả năm 2013 xuống chỉ còn 827 tỷ đồng.

Trong hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam, một mẫu hình phát triển và hiệu quả những năm 2009 - 2011 đã có thay đổi lớn. Một sự thay đổi có lẽ còn vượt quá cả những tính toán xấu nhất của Hội đồng Quản trị và Ban lãnh đạo.

Đầu năm 2013, Eximbank đặt chỉ tiêu 3.200 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế. Thông thường, đây là một chỉ tiêu an toàn, đã bao hàm những yếu tố rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động; đặc biệt, nó bao hàm cả tính dự báo, được đặt ra thận trọng hơn sau khi các ngân hàng trải qua năm 2012 với nhiều khó khăn.

Được biết, con số 3.200 tỷ đồng đó là kết quả “đấu tranh” của Ban điều hành với Hội đồng Quản trị, bởi trước khi chốt chỉ tiêu này Hội đồng Quản trị còn tham vọng hơn (?).

Sau hiện tượng Techcombank, cú rơi tiếp tục xẩy ra với một thành viên từng nhiều năm ở nhóm dẫn đầu khối ngân hàng thương mại cổ phần về tốc độ phát triển và hiệu quả hoạt động. Với Eximbank, cú rơi sâu và sốc hơn. 827 tỷ đồng so với chỉ tiêu 3.200 tỷ đồng, một trời một vực, hay so với kết quả 2.851 tỷ đồng năm 2012 và trước nữa là 4.056 tỷ đồng năm 2011.

Đến thời điểm này, trên cơ sở các thành viên đã công bố thông tin, đây là trường hợp có tỷ lệ thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận thấp nhất, chỉ đạt chưa đầy 26% kế hoạch.

Như trên, chỉ tiêu đặt ra thường được các ngân hàng tính toán chặt chẽ, có yếu tố dự báo thận trọng. Thế nhưng, hai tháng trước khi năm 2013 khép lại, ông Lê Hùng Dũng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Eximbank vẫn “ở trên mây” khi trấn an rằng, lợi nhuận cả năm sẽ phấn đấu ở mức 1.600 tỷ đồng. Với kết quả vừa công bố, tính toán của ông Dũng hẳn đã không ngờ đến cả mức lỗ lớn trong quý 4.

Vì sao vậy?

Trong báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất quý 4 và lũy kế cả năm 2013, có hai hạng mục chính đè con số lợi nhuận của Eximbank xẹp xuống.

Trớ trêu là, một trong số đó lại thuộc vào mảng sở trường và thế mạnh của đầu mối thanh toán xuất nhập khẩu lớn trong hệ thống: kinh doanh ngoại hối. Quý 4/2013, Eximbank lỗ tới 229,6 tỷ đồng ở mảng này, gạt hết cả phần lãi có được từ đầu năm.

Ở đây có thể lý giải một phần của tác động khách quan. Ngân hàng Nhà nước thúc ép các ngân hàng thương mại phải tất toán xong trạng thái vàng. Cao điểm nửa đầu 2013 là áp lực tất toán bằng mọi giá tại nhiều thành viên, Eximbank không phải là ngoại lệ. Rủi ro lớn về giá nằm ở đây, để rồi kết chuyển thành khoản thua lỗ lớn trong kinh doanh ngoại hối chốt sổ cuối năm.

Eximbank chịu tác động khá lớn của yêu cầu tất toán trạng thái vàng. Bởi cuối năm 2012, nguồn vốn bằng vàng của họ vẫn còn tới khoảng 13,8 tấn. Nhưng nói gì thì nói, rủi ro trong kinh doanh vàng cũng khó đổ cho sức ép từ Ngân hàng Nhà nước, bởi cơ quan này đã nhiều lần trì hoãn, đã nhiều lần phải nới lộ trình và nhượng bộ tất toán cho các ngân hàng thương mại.

Lý do thứ hai khiến Eximbank rơi trong năm 2013 là rủi ro nợ xấu.

So với mặt bằng chung hệ thống, cũng như với nhiều thành viên khác, những năm gần đây và hiện nay Eximbank quản lý nợ xấu khá tốt (theo như báo cáo sổ sách). Đây cũng là một trong số rất ít thành viên có được tỷ lệ nợ xấu dưới 1,5% cuối 2012.

Nhưng, năm 2013, nợ xấu của ngân hàng này đã tăng mạnh từ 1,32% lên 1,98%, nhất là mức độ nợ có khả năng mất vốn tăng từ 792,8 tỷ đồng lên tới 1.073,8 tỷ đồng. Đi cùng với đó, chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cũng đã tăng cao, góp phần gây lỗ trong quý 4 và níu kéo lợi nhuận cả năm. Riêng quý 4/2013, Eximbank phải trích lập 120,4 tỷ đồng dự phòng rủi ro tín dụng, trong khi cùng kỳ năm trước chỉ 39,3 tỷ đồng; cả năm là 300,2 tỷ đồng.

Những rủi ro trên mà Eximbank gặp phải cũng có ở khá nhiều ngân hàng khác. Nhưng kết quả chung, Eximbank rơi sâu hơn, nhất là khi so với tốc độ tạo lãi những năm trước.

Sâu xa, những đồn đoán rộ lên cuối năm 2013 là đáng chú ý. Sau khi ngân hàng này thay đổi nhân sự điều hành cao nhất - tổng giám đốc, đã có những xáo trộn trong nội bộ.

Eximbank bổ nhiệm một loạt lãnh đạo điều hành cao cấp, cơ cấu bộ máy quản lý mở rộng. Trong khi đó, một loạt cán bộ nhân viên bị cắt giảm - điều đã góp phần giúp cho ngân hàng tiết giảm được chi phí hoạt động đáng kể trong quý 4/2013.

Trước những bàn tán trong dư luận, ngày 14/11/2013, ông Lê Hùng Dũng, Chủ tịch Eximbank lên tiếng và phủ nhận không có chuyện sa thải nhân sự ồ ạt, mà thực tế mới chỉ chấm dứt hợp đồng với 48 người. Thế nhưng, báo cáo tài chính quý 4/2013 cho thấy, trong quý này đã cắt giảm tới 336 người.

Ngoài tình hình kết quả kinh doanh như trên, Eximbank hiện cũng đang phải đối mặt những vấn đề như tin đồn đoán lan truyền xung quanh việc tái cơ cấu, đơn thư nặc danh gửi tới các cơ quan báo chí... đã tạo thêm những "vết thương tinh thần" trong nội bộ. Đây có thể cũng là một tác động sâu xa, khiến cú rơi của Eximbank trở nên sâu hơn./.

Thùy Vân

Thùy Vân

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,350 16,550
Nguyên Liệu 99.9 16,300 16,500
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 16,270
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17832 18106 18682
CAD 18571 18848 19462
CHF 32708 33093 33738
CNY 0 3470 3830
EUR 29935 30208 31236
GBP 34503 34895 35829
HKD 0 3238 3440
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15021 15608
SGD 20048 20331 20860
THB 722 786 839
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,359
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,003 30,027 31,269
JPY 161.07 161.36 170.07
GBP 34,604 34,698 35,678
AUD 18,016 18,081 18,653
CAD 18,748 18,808 19,385
CHF 32,919 33,021 33,792
SGD 20,142 20,205 20,878
CNY - 3,758 3,858
HKD 3,297 3,307 3,425
KRW 16.18 16.87 18.24
THB 766.78 776.25 826.5
NZD 14,967 15,106 15,460
SEK - 2,772 2,854
DKK - 4,016 4,132
NOK - 2,664 2,742
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,211.87 - 6,971.6
TWD 743.5 - 895.18
SAR - 6,895.13 7,218.34
KWD - 83,583 88,386
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,109 26,139 26,359
EUR 30,029 30,150 31,328
GBP 34,728 34,867 35,873
HKD 3,297 3,310 3,426
CHF 32,853 32,985 33,909
JPY 162.03 162.68 170
AUD 18,064 18,137 18,725
SGD 20,262 20,343 20,925
THB 791 794 829
CAD 18,792 18,867 19,438
NZD 15,128 15,659
KRW 16.91 18.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26359
AUD 17999 18099 19024
CAD 18748 18848 19864
CHF 32939 32969 34548
CNY 3758.2 3783.2 3918.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30103 30133 31856
GBP 34783 34833 36593
HKD 0 3355 0
JPY 162.25 162.75 173.29
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15121 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20203 20333 21066
THB 0 751 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,175 26,225 26,359
USD20 26,175 26,225 26,359
USD1 26,175 26,225 26,359
AUD 18,065 18,165 19,280
EUR 30,242 30,242 31,656
CAD 18,717 18,817 20,130
SGD 20,292 20,442 21,453
JPY 162.64 164.14 168.74
GBP 34,660 35,010 35,884
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,670 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80