Giá vàng thế giới tụt dốc khi ông Trump thắng cử, vàng nhẫn rớt khỏi mốc 88 triệu đồng/lượng

Tú Anh
(TBTCO) - Giá vàng thế giới lao dốc sau khi ông Donald Trump tái đắc cử Tổng thống Mỹ đã kéo giá vàng nhẫn trong nước các loại rớt khỏi mốc 88 triệu đồng/lượng. Nhiều ý kiến cho rằng có nhiều nguyên nhân thúc đẩy giá vàng tăng nóng thời gian qua song khó tăng mạnh thời gian tới.
aa
Đi tìm nguyên nhân vì sao giá vàng lên "cơn sốt" mới?
Giá vàng hôm nay (6/11): Giá vàng nhẫn tiếp tục giảm

Giá vàng nhẫn liên tục được điều chỉnh giảm trong phiên giao dịch chiều ngày 6/11, tuy nhiên, giá vàng miếng SJC vẫn đứng yên. Cụ thể, Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá vàng nhẫn loại 1-5 chỉ ở mức 86,4-87,9 triệu đồng/lượng (mua - bán), giảm 300 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua và bán so với phiên sáng nay và giảm 100 nghìn đồng/lượng so với kết phiên giao dịch hôm qua.

Mức giá này thấp hơn mức kỷ lục được thiết lập tuần trước (ngày 30/10) là 1,3 triệu đồng/lượng cả hai chiều.

Giá vàng thế giới tụt dốc khi ông Trump thắng cử, vàng nhẫn rớt khỏi mốc 88 triệu đồng/lượng
Ảnh: TL minh họa.

Vàng nhẫn tiếp đà giảm

Trong khi đó, Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji cũng giảm giá vàng nhẫn 200 nghìn đồng/lượng chiều mua vào và 100 nghìn đồng/lượng chiều bán ra so với sáng nay, giao dịch ở mức 87,3-88,4 triệu đồng/lượng.

Công ty cổ phần Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) niêm yết giá vàng nhẫn ở mức 87-88,2 triệu đồng/lượng, giảm lần lượt 300 nghìn đồng/lượng và 200 nghìn đồng/lượng ở hai chiều mua - bán so với phiên sáng.

Còn giá vàng miếng SJC do cả ba doanh nghiệp kinh doanh vàng là: Công ty SJC, Doji và PNJ đều niêm yết không đổi so với kết phiên giao dịch hôm qua, ở mốc 87-89 triệu đồng/lượng hai chiều mua vào - bán ra.

Thời gian qua, giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay ở mức 2.721 USD/ounce, thấp hơn gần 70 USD/ounce so với mức đỉnh từng được thiết lập ngày 30/10 (2.790 USD/ounce). Ngay sau khi có kết quả bầu cử Tổng thống Mỹ, giá vàng trên thị trường quốc tế lao dốc không phanh, có thời điểm giảm sát về ngưỡng 2.704 USD/ounce, tương ứng giảm tới gần 40 USD/ounce trong phiên ngày hôm nay trong khi chỉ số DXY đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt tăng vọt trên 105.

Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng ở mức gần 84,4 triệu đồng/lượng, bao gồm thuế và phí. Do giá vàng trong nước điều chỉnh nhẹ trong khi giá vàng quốc tế lao dốc không phanh khiến khoảng cách giá vàng trong nước và thế giới nới rộng, với giá vàng thế giới quy đổi thấp hơn khoảng 4,6 triệu đồng/lượng so với giá vàng trong nước.

Theo dự báo về thị trường hàng hóa của Ngân hàng Thế giới (WB), các nhà phân tích dự đoán nhu cầu về vàng sẽ yếu hơn vào năm 2025-2026 do nhu cầu từ các ngân hàng trung ương và sản xuất đồ trang sức, chiếm khoảng 70% nhu cầu vàng toàn cầu, có khả năng sẽ giảm thời gian tới do giá cao kỷ lục.

Giá vàng dự kiến sẽ tăng 21% vào năm 2024, cao hơn khoảng 80% so với mức trung bình 2015-2019 và giảm 1% vào năm 2025 và 3% vào năm 2026.

Dù vậy, nhiều ý kiến lại cho rằng vàng sẽ sớm tỏa sáng trở lại. Giám đốc chiến lược tương lai và ngoại hối tại Tastylive.com Christopher Vecchio cho rằng khi ông Donald Trump tái đắc cử Tổng thống Mỹ, khả năng chi tiêu của chính phủ sẽ tăng lên và mở rộng các đợt cắt giảm thuế điều này sẽ dẫn đến mức nợ cao hơn. Nếu ông Trump gây sức ép buộc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất thấp sẽ tiếp thêm dầu vào lửa vào lạm phát.

Giao dịch trên thị trường cũng có thể biến động sau quyết định Fed có khả năng cắt giảm lãi suất thêm 25 điểm cơ bản (0,25%) vào cuối tuần này.

Vàng khan hiếm, loạn giá trao tay

Từ đầu năm đến nay, vàng vẫn trở thành ngôi sao sáng trong thị trường kim loại quý, khi giá tăng trên thị trường quốc tế tăng tới 33% trong năm nay, giao dịch gần mức cao kỷ lục gần 2.800 USD/ounce. Còn tại thị trường trong nước, tính từ đầu năm đến nay, giá vàng miếng tăng gần 20%, còn vàng nhẫn tăng nóng hơn.

Giá vàng “quay xe” giảm mạnh sau khi ông Donald Trump tuyên bố chiến thắng. Ảnh: TL.
Giá vàng “quay xe” giảm mạnh sau khi ông Donald Trump tuyên bố chiến thắng. Ảnh: TL.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, TS. Nguyễn Đức Độ -Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính), chỉ rõ nhiều nguyên nhân thúc đẩy giá vàng tăng nóng thời gian qua. Nguyên nhân thứ nhất, một số quốc gia lớn mua vàng. Thứ hai, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giảm lãi suất. Tỷ giá USD/VND tăng khả năng chỉ là sóng hồi trong xu thế giảm dài hạn, khi Fed vẫn tiếp tục giảm lãi suất. Trong ngắn hạn có nhiều yếu tố tác động đến giá vàng và giá USD nên việc DXY và giá vàng cùng tăng vẫn có thể xảy ra.​ Thứ ba, nguy cơ suy thoái tại Mỹ, EU, còn Trung Quốc tăng trưởng chậm, dẫn đến triển vọng đầu tư kém khả quan. Dư địa tăng của cổ phiếu không còn nhiều.

TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng, Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính):

Nguyên nhân thúc đẩy giá vàng đó là: một số quốc gia lớn mua vàng; Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giảm lãi suất; nguy cơ suy thoái tại Mỹ, EU, còn Trung Quốc tăng trưởng chậm, dẫn đến triển vọng đầu tư kém khả quan.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Đức Độ cho rằng, vàng tăng được một đoạn khá xa nên có thể sắp tới chưa chắc tăng mạnh. Bình luận về khả năng một đồng tiền mới do BRICS (các nền kinh tế mới nổi lớn gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi) thiết lập để cạnh tranh với đồng USD trên toàn cầu sẽ đẩy giá vàng tăng sắp tới, theo vị chuyên gia này, hệ thống tiền tệ mới chưa khả quan trong ngắn hạn.

"Có thể các nước sẽ gia tăng thanh toán thương mại song phương bằng đồng tiền không phải USD, chẳng hạn Trung Quốc dùng nhân dân tệ mua hàng Nga, còn Nga dùng đồng rúp mua hàng Trung Quốc. USD vẫn là đồng tiền thống trị trong thương mại của các nước" - ông Độ nêu quan điểm.

Với thị trường vàng trong nước, hiện việc thiếu hụt nguồn cung vàng miếng vẫn đang tiếp diễn. Trao đổi với phóng viên TBTCVN, nhân viên Trung tâm Vàng bạc trang sức Doji Nguyễn Văn Cừ (Long Biên, Hà Nội) cho biết, mọi cửa hàng trong hệ thống đều không nhận đặt trước và cũng không biết bao giờ có vàng. Nhân viên này gợi ý khách hàng có thể đặt mua trên Egold, một ứng dụng mua bán vàng vật chất trực tuyến của Doji kết hợp với TPBank. Tuy nhiên, ứng dụng liên tục báo lỗi và không thể mua dù 1 chỉ vàng.

Tại cửa hàng vàng SJC Phan Đình Phùng (Ba Đình, Hà Nội), nhân viên cho biết khách hàng phải đăng ký mua trực tuyến với số lượng giới hạn tùy vào lượng hàng trong kho. Dù vậy, nhiều khách hàng than phiền vì rất khó nhọc đăng ký trực tuyến dù canh thời gian SJC mở bán mỗi ngày.

Trước thực tế này, người dân không còn kiên nhẫn với việc chờ đợi và tìm kiếm những phương thức giao dịch khác khó kiểm soát hơn, hoạt động mua bán vàng trao tay qua các hội, nhóm online nở rộ trở nên nhộn nhịp, giá mỗi bên một phách, nguồn vàng cũng khó xác định gây nhiều rủi ro cho người dân khi “nhắm mắt” giao dịch./.

Tú Anh

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng vượt mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi dưới mốc 4.300 USD/ounce trước áp lực từ đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ, trong khi giá vàng trong nước tiếp tục giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng trở lại ở cả vàng miếng và vàng nhẫn, với mức điều chỉnh cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 95 USD/ounce, xuống còn 4.320 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giữ ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,100 ▼500K 147,100 ▼500K
Hà Nội - PNJ 144,100 ▼500K 147,100 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 144,100 ▼500K 147,100 ▼500K
Miền Tây - PNJ 144,100 ▼500K 147,100 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 144,100 ▼500K 147,100 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,100 ▼500K 147,100 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,410 ▼50K 14,710 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,410 ▼50K 14,710 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,410 ▼50K 14,710 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,360 ▼50K 14,710 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,360 ▼50K 14,710 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,360 ▼50K 14,710 ▼50K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,020 ▼50K 14,620 ▼50K
Trang sức 99.99 14,030 ▼50K 14,630 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,441 ▼5K 14,712 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,441 ▼5K 14,713 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,436 ▼5K 1,466 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,436 ▼5K 1,467 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼5K 1,456 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,158 ▼495K 144,158 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,561 ▼375K 109,361 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,368 ▼340K 99,168 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,175 ▲71227K 88,975 ▲80047K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,243 ▼292K 85,043 ▼292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,071 ▲45943K 60,871 ▲54763K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Cập nhật: 21/09/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18000 18274 18850
CAD 18039 18314 18928
CHF 30950 31327 31973
CNY 0 3841 3937
EUR 29212 29432 30508
GBP 33991 34381 35308
HKD 0 3184 3386
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14570 15158
SGD 19848 20130 20696
THB 696 759 812
USD (1,2) 25746 0 0
USD (5,10,20) 25785 0 0
USD (50,100) 25813 25827 26193
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,272 29,295 30,684
JPY 161.27 161.56 171.31
GBP 34,192 34,285 35,471
AUD 18,187 18,253 18,950
CAD 18,233 18,292 18,969
CHF 31,232 31,329 32,248
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,809 3,954
HKD 3,248 3,258 3,395
KRW 17.29 18.03 19.62
THB 744.24 753.43 806.47
NZD 14,545 14,680 15,118
SEK - 2,599 2,691
DKK - 3,926 4,065
NOK - 2,713 2,811
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,960.1 - 6,727.23
TWD 737.68 - 893.72
SAR - 6,805.55 7,168.69
KWD - 82,348 87,625
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,309 29,427 30,627
GBP 34,205 34,342 35,368
HKD 3,248 3,261 3,378
CHF 31,091 31,216 32,159
JPY 161.83 162.48 170.46
AUD 18,193 18,266 18,860
SGD 20,036 20,116 20,706
THB 761 764 801
CAD 18,249 18,322 18,912
NZD 14,631 15,173
KRW 17.95 19.92
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26200
AUD 18188 18288 19213
CAD 18225 18325 19340
CHF 31205 31235 32816
CNY 3824.8 3849.8 3985.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29398 29428 31154
GBP 34302 34352 36122
HKD 0 3305 0
JPY 162.18 162.68 173.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14693 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20009 20139 20870
THB 0 726.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14410000 14410000 14710000
SBJ 13000000 13000000 14710000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,700 25,820 26,210
USD20 25,670 25,820 26,210
USD1 25,650 25,820 26,210
AUD 18,213 18,313 19,453
EUR 29,197 29,297 30,993
CAD 18,170 18,270 19,598
SGD 20,076 20,226 20,809
JPY 162.93 164.43 170.2
GBP 34,203 34,353 35,710
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,730 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/09/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30