Đi tìm nguyên nhân vì sao giá vàng lên "cơn sốt" mới?

(TBTCO) - Các ngân hàng trung ương tham gia làn sóng mua vàng do sự phân mảnh tài chính làm tăng nhu cầu đối với tài sản lâu đời này khiến thị trường vàng bước vào thời kỳ hoàng kim mới.
aa
Đi tìm nguyên nhân vì sao giá vàng lên
Vàng miếng tại Zimbabwe.

Trong năm qua, các nhà đầu tư đã đổ xô vào vàng, đẩy giá kim loại quý này vàng tăng 38% lên mức kỷ lục hơn 2.700 USD/ounce.

Làn sóng vàng đã lan đến những nơi bất thường: vàng miếng xuất hiện trên kệ hàng của nhà bán lẻ Costco (Mỹ) và chuỗi cửa hàng tiện lợi CU (Hàn Quốc) trong bối cảnh lạm phát gia tăng và mối lo bất ổn địa chính trị thúc đẩy nhu cầu tích trữ các tài sản an toàn.

Các ngân hàng trung ương cũng tham gia làn sóng mua vàng do sự phân mảnh tài chính làm tăng nhu cầu đối với tài sản lâu đời này. Điều này khiến thị trường vàng bước vào thời kỳ hoàng kim mới.

Thay đổi lựa chọn đầu tư

Các nhà đầu tư chuyên nghiệp có xu hướng coi thường vàng vì lý do chính đáng: Vàng không tạo ra lợi nhuận.

Nhà đầu tư tỷ phú Warren Buffett cho biết những người đặt cược vào vàng là những người sợ các tài sản khác. Ông tin rằng nhóm người như vậy đang tăng.

Theo chuyên gia Dirk Baur và Lai Hoang tại Đại học Tây Australia, trong số các nhà đầu tư tổ chức của Mỹ quản lý hơn 100 triệu USD tài sản, chỉ 25% sở hữu cổ phiếu trong các quỹ giao dịch hoán đổi (ETF) vàng và chỉ có 1,5% tài sản của các công ty đó là vàng. Tất cả những điều này giúp giải thích tại sao lượng vàng nắm giữ trong các quỹ ETF không tăng, ngay cả khi giá kim loại quý này đã tăng.

Những người hâm mộ kim loại quý này nhất không phải lúc nào cũng có khả năng tự kiểm soát. Những người đam mê vàng đưa ra những dự đoán phóng đại để biện minh cho những lần đặt cược của họ. Một vụ vỡ nợ sắp xảy ra của Mỹ là một lý do được ưa chuộng, hoặc khả năng Trung Quốc và Nga dự kiến sẽ tung ra một loại tiền tệ được bảo đảm bằng vàng cũng là một cái cớ mới.

Nhưng ngày nay, nhiều người tin rằng kinh tế toàn cầu thực sự đang đi xuống so với chỉ vài năm trước và có nhiều lý do hợp lý hơn để tin vào vàng.

Các công ty quản lý tài sản gia đình - công cụ đầu tư được giới nhà giàu tư nhân ưa chuộng, đang phát triển nhanh chóng với khối tài sản được quản lý tăng từ 3.300 tỷ USD trong năm 2019 lên mức hiện nay là 5.500 tỷ USD, khi nhiều nhà đầu tư muốn bảo vệ tài sản của mình khỏi những hậu quả thảm khốc.

Giá trị của một loại tiền tệ có thể giảm so với các loại tiền tệ khác; nguồn cung tương đối cố định của vàng và mức độ phổ biến trong lịch sử khuyến khích các nhà đầu tư tin rằng vàng có thể bảo vệ họ trước giá cả tăng mạnh và các chính sách sai.

Theo công ty cung cấp dữ liệu Campden Wealth (Anh), hơn 2/3 các công ty quản lý tài sản gia đình đầu tư vào vàng. Nhu cầu lớn đến từ châu Á, khi Trung Quốc và Ấn Độ chiếm 20% sản lượng kinh tế thế giới nhưng lại chiếm đến một nửa lượng vàng vật chất mà người tiêu dùng mua vào. Người dân Đức và Thụy Sỹ là những người châu Âu duy nhất có cùng xu hướng này.

Tại Trung Quốc, cuộc khủng hoảng bất động sản đã thúc đẩy những người có vốn tìm kiếm lựa chọn đầu tư mới. Việc mua vàng miếng và tiền xu vàng trong nửa đầu năm nay đã tăng 44% so với cùng kỳ năm 2023. Khi Ấn Độ trở nên giàu hơn, nhiều người có tiền mua vàng hơn. Hệ quả là hoạt động cho vay được bảo đảm bằng vàng “cất cánh.” Công ty cho vay Muthoot Finance chứng kiến giá cổ phiếu tăng gần gấp 3 lần trong 5 năm qua.

Nhưng một nhóm nhà đầu tư khác - có lẽ là những người hoang tưởng và bảo thủ nhất - mới thực sự thúc đẩy đợt tăng giá gần đây: các nhà quản lý kho dự trữ tại các ngân hàng trung ương. Tỷ trọng vàng trong kho dự trữ tài sản của các ngân hàng trung ương đã giảm trong nhiều thập kỷ, từ gần 40% vào năm 1970 xuống chỉ còn 6% vào năm 2008. Tuy nhiên, gần đây, tỷ trọng vàng đã tăng đều đặn, lên 11% vào năm ngoái, mức cao nhất trong hơn 2 thập kỷ.

Cuộc xung đột ở Ukraine và việc đóng băng dự trữ ngoại tệ của Nga là một thời điểm then chốt, chứng minh cho các ngân hàng trung ương rằng nếu đất nước của họ bị trừng phạt, trái phiếu Mỹ và các tài sản an toàn khác được định giá bằng tiền tệ phương Tây sẽ vô dụng.

Theo Hội đồng Vàng Thế giới, từ đầu năm 2022, các ngân hàng trung ương ở Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ đã mua lần lượt 316, 198 và 95 tấn vàng. Thay vì đầu tư vào các quỹ ETF, các ngân hàng trung ương chủ yếu tích lũy vàng vật chất và đảm bảo có vàng trong tay.

Đáng chú ý, không phải tất cả các ngân hàng trung ương mua vàng đều có mối quan hệ khó khăn với phương Tây. Cơ quan Tiền tệ Singapore đã tích lũy được 75 tấn vàng từ đầu năm 2022. Ngân hàng quốc gia Ba Lan đã tăng lượng vàng nắm giữ thêm 167 tấn trong cùng kỳ như một phần của chiến lược nâng tỷ trọng dự trữ tài sản bằng vàng lên 20%. Trong khi vào tháng trước, Lào đã mở một ngân hàng vàng miếng tại thủ đô nước này.

Nhu cầu vàng của các ngân hàng trung ương dường như không có khả năng giảm trong thời gian tới. Trong một cuộc khảo sát các nhà đầu tư do Invesco Asset Management thực hiện trong năm nay, không có ngân hàng nào trong số 51 ngân hàng trung ương dự kiến sẽ giảm lượng phân bổ vàng trong kho dự trữ tài sản vào ba năm tới và 37% dự kiến sẽ tăng tỷ trọng. Khoảng 56% các ngân hàng trung ương tin rằng vàng góp phần chống lại xu hướng "vũ khí hóa" và 70% coi đó là phương tiện chống lạm phát.

Mối tương quan truyền thống bị phá vỡ

Nhu cầu vàng từ các ngân hàng trung ương - vốn đầu tư vì an ninh thay vì lợi nhuận - giúp giải thích tại sao mối quan hệ giữa vàng và lãi suất bị phá vỡ. Kim loại này thường kém hiệu quả khi lợi suất thực tế của trái phiếu chính phủ tăng cao. Khi lợi suất trái phiếu hạ, vàng có xu hướng tăng giá. Trong môi trường lợi suất thấp, các nhà đầu tư có nhiều khả năng cân nhắc một tài sản không tạo ra lợi nhuận.

Tuy nhiên, kể từ cuối năm 2021, mối tương quan đáng tin cậy này đã sụp đổ. Giá vàng tăng ngay cả khi lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm tăng từ mức âm 1% lên khoảng 1,8%. Khi lợi suất thực tế cao như vậy, vàng có giá trị khoảng 1.000 USD/ounce, thấp hơn gần 2/3 giá trị so với mức hiện tại.

Các nhà đầu tư siêu giàu cũng có thể mua nhiều vàng hơn. Nhưng đối với những nhà cung cấp vàng, mục tiêu thực sự là các tổ chức đầu tư. Chỉ cần thu về một phần nhỏ trong số hàng chục nghìn tỷ USD mà họ quản lý cũng sẽ là món hời lớn. Ngân hàng Goldman Sachs lưu ý, nhu cầu đối với các quỹ ETF có xu hướng chỉ tăng khi lãi suất của Mỹ giảm.

Thông thường, việc giảm lãi suất 0,25 điểm phần trăm sẽ làm tăng lượng nắm giữ vàng tại các quỹ ETF thêm 60 tấn - hiện có trị giá 5 tỷ USD - trong 6 tháng tiếp theo./.

Theo TTXVN

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm hơn 10 USD/ounce, xuống còn 4.414 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng giảm 1,1 triệu đồng, còn vàng nhẫn giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 7/9: Vàng nhẫn cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 7/9: Vàng nhẫn cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đi ngang, trong đó vàng nhẫn được niêm yết cao nhất ở mức 150 triệu đồng/lượng, cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống, với vàng miếng giảm 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 5/9: Vàng thế giới giảm hơn 60 USD, vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 5/9: Vàng thế giới giảm hơn 60 USD, vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 60 USD, xuống mức 4.430 USD/ounce. Trong khi đó, vàng trong nước đồng loạt tăng, có thương hiệu điều chỉnh vàng nhẫn thêm 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/9: Vàng thế giới tăng hơn 100 USD, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 4/9: Vàng thế giới tăng hơn 100 USD, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 103 USD/ounce trong vòng 24 giờ, lên 4.472,2 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng giảm trái chiều, với mức điều chỉnh cao nhất lên đến 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/9: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 3/9: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi xuống, trong đó vàng nhẫn giảm tới 700.000 đồng/lượng, vàng miếng giảm tối đa 500.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,300 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,300 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 1,455
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cập nhật: 13/09/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Cập nhật: 13/09/2026 03:30
Ngân hàng