Gỡ khó khăn, thúc tiến độ dự án kết nối giao thông khu vực Tây Nguyên

Trí Dũng
(TBTCO) - Dự án nâng cấp quốc lộ 19 nối Gia Lai - Bình Định (giai đoạn 2) thuộc Dự án tăng cường kết nối giao thông khu vực Tây Nguyên, vốn vay Ngân hàng Thế giới (WB), góp phần nâng cao năng lực vận hành, khai thác, giảm thiểu ùn tắc giao thông trên tuyến quốc lộ 19. Hiện vẫn còn một số vướng mắc về giải phóng mặt bằng, vật liệu đất đắp nền đường đòi hỏi cần sớm tháo gỡ để đảm bảo tiến độ dự án, góp phần từng bước thay đổi diện mạo hạ tầng giao thông khu vực Tây Nguyên...
aa
Gỡ khó khăn, thúc tiến độ dự án kết nối giao thông khu vực Tây  Nguyên
Dự án nâng cấp quốc lộ 19 nối Gia Lai - Bình Định (giai đoạn 2) hiện còn một số khó khăn về mặt bằng, vật liệu. Ảnh: Nhật Tân

Vướng mắc giải phóng mặt bằng

Theo Ban Quản lý dự án (QLDA) 2, Bộ Giao thông vận tải (GTVT), Dự án tăng cường kết nối giao thông khu vực Tây Nguyên, quốc lộ (QL) 19 dài 143,6 km, có 8 gói thầu: Điểm đầu là Km50+00, QL19 thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, điểm cuối Km241+00, QL19 thuộc huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai; đi qua tỉnh Bình Định 17 km tỉnh Gia Lai 126,34 km, thực hiện từ năm 2017-2023; quy mô tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng.

Dự án có tổng mức đầu tư hơn 3.654 tỷ đồng. Trong đó, vốn vay IDA 150 triệu USD, vốn đối ứng 3,7 triệu USD, vốn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Australia cho công tác thiết kế kỹ thuật 2,1 triệu USD. Đến tháng 7/2022, Bộ GTVT quyết định bổ sung 500 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước cho dự án này. Nếu tính cả 2 giai đoạn, nguồn vốn đầu tư nâng cấp toàn tuyến QL19 lên đến gần 5.600 tỷ đồng. Dự án do Ban QLDA 2, Bộ GTVT là chủ đầu tư.

Hiện tại, dự án đang còn một số khó khăn, vướng mắc cần được tháo gỡ. Cụ thể, về giải phóng mặt bằng (GPMB) vẫn còn vướng mắc tại các gói thầu XL01, XL02, ảnh hưởng đến tiến độ thi công của dự án. Trong đó: Gói thầu số 1 còn vướng 36 hộ dân khu vực cầu Ba La và 12 hộ dân nằm rải rác theo tuyến đường; chưa di rời hàng cột điện dài 2,5 km khu vực Tây Giang và 1 cột điện trên đèo Km63+800. Gói thầu số 2 còn 2 hộ dân chưa bàn giao đất, do không thống nhất với phương án bồi thường. Gói thầu só 6 còn một số hộ dân tranh chấp không cho thi công hệ thống đường gom, rãnh thoát nước khu vực Bàu Cạn, Chư Prông.

Về vật liệu đất đắp nền đường, đến thời điểm này, tỉnh Gia Lai vẫn chưa cấp phép và gia hạn vật liệu đất đắp cho dự án nên việc điều phối đất từ đào nền đường tại gói thầu XL01 (địa phận tỉnh Bình Định) cho các gói thầu XL02, XL03 (địa phận tỉnh Gia Lai) gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, đoạn từ gói thầu XL04A - XL07 do đã vào mùa mưa nên việc triển khai thi công, đặc biệt là đối với thi công bê tông nhựa gặp nhiều khó khăn.

Dự án tăng cường kết nối giao thông khu vực Tây Nguyên tổng đầu tư 5.600 tỷ đồng

Dự án tăng cường kết nối giao thông khu vực Tây Nguyên có tổng mức đầu tư hơn 3.654 tỷ đồng. Trong đó, vốn vay IDA 150 triệu USD, vốn đối ứng 3,7 triệu USD, vốn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Australia cho công tác thiết kế kỹ thuật 2,1 triệu USD. Đến tháng 7/2022, Bộ Giao thông vận tải quyết định bổ sung 500 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước cho dự án này. Nếu tính cả 2 giai đoạn, nguồn vốn đầu tư nâng cấp toàn tuyến quốc lộ 19 lên đến gần 5.600 tỷ đồng. Dự án do Ban Quản lý dự án 2, Bộ Giao thông vận tải là chủ đầu tư.

Tại gói thầu XL05 vướng mắc mặt bằng tại phân đoạn điều chuyển khối lượng của Công ty Giang Tùng cho Công ty Tiến Dung KonTum, do trong quá trình triển khai bị một số cá nhân, tập thể cản trở thi công, do Công ty Giang Tùng trước đó vướng mắc công nợ với một số doanh nghiệp địa phương.

Đảm bảo tiến độ, chất lượng công trình

Lãnh đạo Ban QLDA 2 cho biết thêm, để đẩy nhanh tiến độ triển khai hoàn thành dự án theo yêu cầu, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên, Ban QLDA 2 kiến nghị Bộ GTVT có ý kiến với hội đồng GPMB địa phương để tập trung, đẩy nhanh tiến độ tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc phát sinh để bàn giao mặt bằng “sạch” cho nhà thầu thi công tại các gói thầu XL-01, XL-02.

Đồng thời, Ban QLDA 2 cũng yêu cầu các nhà thầu tập trung máy móc, thiết bị, nhân lực, tranh thủ thời tiết thuận lợi để tổ chức thi công “3 ca, 4 kíp” đẩy nhanh tiến độ thi công, tổ chức thi công đồng thời tất cả các hạng mục công việc còn lại trên tuyến.

Kiểm soát chặt chẽ tiến độ theo ngày đối với các hạng mục chính, đảm bảo hoàn thành một số mốc tiến độ theo chỉ đạo của Bộ GTVT. Đối với các nhà thầu chưa đáp ứng các mốc tiến độ trên, yêu cầu có giải pháp để bù lại tiến độ bị chậm, trường hợp vẫn không đáp ứng yêu cầu Ban QLDA 2 có phương án điều phối thi công giữa các nhà thầu hoặc bổ sung nhà thầu đáp ứng năng lực để triển khai thi công ngay, bù lại tiến độ đã bị chậm, đáp ứng hoàn thành dự án.

Các nhà thầu gói thầu xây lắp (XL-02; XL-04A) cần phối hợp chặt chẽ với địa phương trong việc gia hạn và cấp phép khai thác các mỏ đất phục vụ thi công dự án; đồng thời, tiếp tục rà soát, tìm kiếm các mỏ vật liệu đủ điều kiện để phục vụ thi công dự án. Tư vấn giám sát, nhà thầu nghiêm túc thực hiện, tuân thủ theo các quy định về kiểm soát chất lượng công trình đảm bảo theo đúng chỉ dẫn kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật yêu cầu; tuyệt đối không được vì tiến độ mà bỏ qua chất lượng./.

Trí Dũng

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼550K 16,000 ▼550K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼550K 15,950 ▼550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼350K 16,950 ▼350K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼350K 16,900 ▼350K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼350K 16,880 ▼350K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,670 ▼600K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700 ▼600K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17741 18014 18592
CAD 18522 18799 19416
CHF 32608 32992 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29820 30092 31120
GBP 34375 34766 35700
HKD 0 3237 3439
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14944 15527
SGD 19984 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26357
AUD 17914 18014 18942
CAD 18694 18794 19810
CHF 32851 32881 34459
CNY 3754.3 3779.3 3914.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30000 30030 31756
GBP 34667 34717 36469
HKD 0 3355 0
JPY 161.64 162.14 172.68
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15040 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20140 20270 21005
THB 0 747.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16850000 16850000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80