Tháo gỡ khó khăn, thúc giải ngân vốn cho các dự án giao thông

Trí Dũng
(TBTCO) - Ước tính đến hết tháng 10/2025, giá trị giải ngân của Bộ Xây dựng đạt 43.531 tỷ đồng, đạt xấp xỉ 50% so với kế hoạch giao đầu năm và đạt hơn 54% so với kế hoạch sau khi được cấp có thẩm quyền điều chỉnh. Để giải ngân hết kế hoạch năm 2025, cấp thiết phải giải quyết triệt để vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, nguồn vật liệu.
aa

Giải ngân 10 tháng ước đạt hơn 43.500 tỷ đồng

Thông tin từ Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Xây dựng), hết tháng 10/2025, giá trị giải ngân của Bộ Xây dựng ước đạt 43.531 tỷ đồng, gồm: khoảng 41.488 tỷ đồng các dự án do chủ đầu tư thuộc Bộ giải ngân và khoảng 2.043 tỷ đồng các dự án do chủ đầu tư thuộc địa phương quản lý giải ngân. Kết quả giải ngân của Bộ Xây dựng ước đạt xấp xỉ 50% so với kế hoạch giao đầu năm và đạt hơn 54% so với kế hoạch sau khi được cấp có thẩm quyền điều chỉnh giảm phần hết nhiệm vụ chi và điều chuyển cho địa phương.

Thách thức lớn đối với công tác giải ngân hiện nay là một số dự án còn chậm tiến độ do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, chưa được tháo gỡ triệt để, như: Cầu Đuống mới (TP. Hà Nội); Nâng cấp QL2 đoạn Vĩnh Yên - Việt Trì (tỉnh Phú Thọ); Cầu Cẩm Lý (tỉnh Bắc Ninh); Nâng cấp QL46 đoạn Vinh - Nam Đàn (tỉnh Nghệ An); Nâng cấp QL28B (tỉnh Lâm Đồng); Nâng cao tĩnh không các cầu đường bộ, đường sắt cắt qua tuyến đường thủy nội địa quốc gia (TP. Cần Thơ, tỉnh An Giang).

Tháo gỡ khó khăn, thúc giải ngân vốn cho các dự án giao thông
Thi công Đường cao tốc Cần Thơ - Cà Mau

Cùng đó là dự án đường sắt Hà Nội - Vinh (TP. Hà Nội); Đường sắt Vinh - Nha Trang (tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Gia Lai); Đường Hồ Chí Minh các đoạn: Chợ Chu - ngã ba Trung Sơn (tỉnh Tuyên Quang), Rạch Sỏi - Bến Nhất - Gò Quao - Vĩnh Thuận (tỉnh An Giang).

Đặt mục tiêu phấn đấu giải ngân hết kế hoạch năm 2025 (sau khi đã điều chỉnh giảm phần hết nhiệm vụ chi), Bộ Xây dựng cho biết từ nay đến cuối năm sẽ tiếp tục quyết liệt chỉ đạo để hoàn thành, khởi công toàn bộ các dự án quan trọng, trọng điểm theo đúng tiến độ chỉ đạo, đặc biệt là các dự án đã đăng ký khởi công, khánh thành vào ngày 19/12/2025.

Bộ Xây dựng sẽ theo dõi, chỉ đạo sát sao tiến độ tổng thể của các dự án, có giải pháp điều hòa linh hoạt kế hoạch vốn của các dự án nguy cơ không giải ngân hết kế hoạch để bố trí bổ sung vốn đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, tái định của dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng , dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam, bảo đảm hoàn thành toàn bộ kế hoạch.

Đẩy nhanh tiến độ các dự án tại đồng bằng sông Cửu Long

Cũng theo Bộ Xây dựng, hiện khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang triển khai 11 dự án và dự án thành phần đường bộ cao tốc với tổng chiều dài hơn 434 km. Bộ Xây dựng quản lý 5 dự án với tổng chiều dài gần 212 km. Có 4 dự án dự kiến hoàn thành trong năm 2025 gồm: Cần Thơ - Hậu Giang và Hậu Giang - Cà Mau (gần 111 km), Cao Lãnh - Lộ Tẻ (gần 29 km) và Lộ Tẻ - Rạch Sỏi (hơn 51 km). Dự án Mỹ An - Cao Lãnh, khởi công tháng 7/2025, có kế hoạch hoàn thành năm 2028, dài hơn 26 km.

“Bộ Xây dựng khẳng định sẽ theo dõi, kiểm tra thường xuyên, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ các khó khăn phát sinh; đồng thời đôn đốc các chủ đầu tư, nhà thầu đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo hoàn thành các dự án đúng kế hoạch đề ra” - Thứ trưởng Phạm Minh Hà nhấn mạnh.

Còn các địa phương quản lý 6 dự án với tổng chiều dài gần 217 km. Cao Lãnh - Lộ Tẻ đạt 92% giá trị sản lượng, dự kiến hoàn thành trước ngày 19/12/2025. Lộ Tẻ - Rạch Sỏi đạt 99%, sẽ hoàn thành cuối tháng 10/2025. Cao tốc Cần Thơ - Cà Mau tiến độ đạt 75%, đã hoàn thành toàn bộ các cầu trên tuyến chính, dự kiến hoàn thành tuyến chính vào 19/12/2025, dù tiến độ bị ảnh hưởng bởi thời tiết.

Còn cao tốc Cao Lãnh - An Hữu, dự án thành phần 1 đạt gần 70% sản lượng, giải ngân 96%, có thể thông tuyến tháng 12/2025; dự án thành phần 2 đạt 53% sản lượng và 63% giải ngân, dự kiến thông tuyến tháng 4/2026. Đối với Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, dự án thành phần 1 đạt hơn 62% giá trị sản lượng và giải ngân; các dự án thành phần 2, 3, 4 đạt bình quân 45% sản lượng, 37% giải ngân, dự kiến hoàn thành vào tháng 12/2026.

Theo Thứ trưởng Bộ Xây dựng Phạm Minh Hà, công tác giải phóng mặt bằng tại các dự án cao tốc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long về cơ bản đã hoàn thành, chỉ còn một số vướng mắc nhỏ, song đến nay các địa phương vẫn chưa bàn giao mặt bằng đầy đủ theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ. Trở ngại lớn hiện nay là thiếu hụt nguồn vật liệu xây dựng, đặc biệt là cát đắp nền. Bộ Xây dựng cho biết, công suất khai thác tại các mỏ cát hiện có chưa đáp ứng yêu cầu, riêng các dự án thành phần 2, 3, 4 tuyến Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng còn thiếu khoảng 11 triệu m3 cát.

Để tháo gỡ vướng mắc và bảo đảm tiến độ, Bộ Xây dựng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các địa phương là Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau bàn giao toàn bộ mặt bằng trong tháng 10/2025. Đồng thời, yêu cầu các chủ đầu tư kiểm soát chặt tiến độ, tăng cường nhân lực, máy móc, tổ chức thi công “3 ca, 4 kíp”, áp dụng giải pháp kỹ thuật rút ngắn thời gian gia tải chờ lún để sớm hoàn thành dự án.

Các địa phương được đề nghị rà soát, nâng công suất và mở mỏ mới, điều chuyển linh hoạt nguồn vật liệu giữa các dự án, đồng thời xác định nguồn đá ổn định để cung ứng kịp thời cho các công trình. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục phối hợp hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn về nguồn vật liệu.

Trí Dũng

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18627
CAD 18525 18802 19419
CHF 32612 32996 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29835 30108 31141
GBP 34397 34788 35725
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14980 15568
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80