Hội đồng Vàng Thế giới: Giá vàng tiếp tục tăng trong năm 2025

Đỗ Doãn
(TBTCO) - Lực mua chủ đạo từ các ngân hàng trung ương và giới đầu tư; tăng trưởng kinh tế yếu, cộng với nhu cầu về vàng như một tài sản lưu trữ, phòng ngừa rủi ro trước những bất ổn địa chính trị và kinh tế vĩ mô sẽ là những yếu tố đẩy giá vàng thế giới tiếp tục tăng trong năm 2025.
aa

Giá trị giao dịch đạt mức kỷ lục 382 tỷ USD

Liên quan đến giá vàng, báo cáo Xu hướng nhu cầu vàng quý IV và cả năm 2024 của Hội đồng Vàng thế giới (WGC) vừa công bố cho thấy, tổng nhu cầu vàng trong năm đạt mức cao kỷ lục mới là 4.974 tấn, do nhu cầu đầu tư tăng cùng với hoạt động mua vào mạnh và liên tục của khối ngân hàng trung ương. Sự kết hợp giữa giá vàng cao kỷ lục và khối lượng giao dịch đã làm tổng giá trị nhu cầu vàng lên đến 382 tỷ USD, mức cao nhất từ ​​trước đến nay.

Giá trị giao dịch vàng tăng kỷ lục trong năm 2024. Ảnh WGC.
Giá trị giao dịch vàng tăng kỷ lục trong năm 2024. Ảnh WGC.

Cụ thể, các ngân hàng trung ương đã liên tục mua vàng với tốc độ nhanh trong năm 2024, số lượng mua vượt 1.000 tấn trong năm thứ ba liên tiếp. Riêng trong quý IV/2024, hoạt động mua vào tăng mạnh, đạt 333 tấn và nâng tổng lượng mua vào hàng năm của các ngân hàng trung ương lên 1.045 tấn.

Tổng nguồn cung vàng tăng 1% so với cùng kỳ năm 2023, đạt mức cao kỷ lục mới là 4.794 tấn. Sự tăng trưởng cả trong hoạt động sản xuất khai thác mỏ và tái chế đã góp phần làm tăng tổng nguồn cung vàng.

Trong khi đó, nhu cầu đầu tư vàng trên toàn cầu cũng tăng 25% so với năm 2023 lên 1.180 tấn - mức cao nhất trong bốn năm - do sự hồi sinh nhu cầu của quỹ hoán đổi danh mục vàng (ETF) trong nửa cuối năm 2024. Các quỹ ETF toàn cầu đã nắm giữ thêm 19 tấn vàng trong quý IV/2024, đánh dấu hai quý liên tiếp có dòng tiền chảy vào vàng. Nhu cầu về vàng miếng và vàng xu duy trì ở mức tương đương với khối lượng năm 2023, đạt 1.186 tấn trong năm 2024.

Các thị trường khu vực ASEAN cũng chứng kiến sự tăng trưởng về ​​nhu cầu đầu tư vàng hàng năm. Riêng quý IV/2024, Việt Nam đi ngược lại xu hướng của khu vực với mức giảm 14% (so với cùng kỳ năm 2023). Sự thiếu hụt nguồn cung đã hạn chế khả năng mua vàng miếng của các nhà đầu tư, dẫn đến mức chênh lệch giá cao hơn. Trong bối cảnh này, một số nhà đầu tư đã chuyển sang mua vàng nhẫn. Mặc dù vàng nhẫn được xếp vào vàng trang sức nhưng những chiếc nhẫn vàng trơn này thường được sử dụng làm tài sản đầu tư.

Nhiều yếu tố thúc đẩy giá vàng

Giá vàng cao là trở ngại lớn đối với ngành trang sức trên khắp các thị trường ASEAN, đặc biệt là ở Việt Nam, khi chứng kiến ​​mức giảm 15%. Bên cạnh mức giá vàng tăng cao, sự hạn chế trong chi tiêu và hoạt động trấn áp hành vi trốn thuế của chính phủ cũng là những yếu tố tác động.

giá vàng tăng cao khiến nhu cầu mua vàng trang sức giảm. Ảnh WGCnăm 2025
Giá vàng tăng cao khiến nhu cầu mua vàng trang sức giảm. Ảnh minh họa.

Theo bà Louise Street - chuyên gia phân tích thị trường cấp cao của Hội đồng Vàng thế giới, trong năm 2024, vàng một lần nữa nhận được nhiều sự quan tâm khi mức giá có tới 40 mức kỷ lục, dù nhu cầu trong năm 2024 không tăng hoặc giảm đều đặn mà thay đổi theo nhiều biến động khác nhau.

Các ngân hàng trung ương ghi nhận nhu cầu mạnh trong quý I trước khi giảm dần vào giữa năm và lại tăng cao trong quý IV. Tương tự, trong nửa cuối năm 2024, các nhà đầu tư phương Tây đã rót tiền mạnh trở lại vàng, cùng với với sự gia tăng mạnh của dòng tiền chảy vào vàng từ châu Á, đã đưa dòng tiền của các quỹ ETF vàng toàn cầu trở lại mức cao trong quý III và quý IV.

''Điều này là do việc bắt đầu các chu kỳ cắt giảm lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương và sự bất ổn địa chính trị gia tăng trên toàn cầu, bao gồm cuộc bầu cử tổng thống Mỹ và căng thẳng leo thang ở Trung Đông'' – bà Louise Street phân tích.

''Trong năm 2025, chúng tôi kỳ vọng các ngân hàng trung ương sẽ tiếp tục giữ vai trò chủ đạo và các nhà đầu tư ETF vàng sẽ tích cực tham gia, nhất là khi lãi suất tín dụng giảm. Mặt khác, vàng trang sức có thể sẽ tiếp tục sụt giảm khi giá vàng tăng cao và tăng trưởng kinh tế yếu khiến khả năng mua của người tiêu dùng giảm. Sự bất ổn về địa chính trị và kinh tế vĩ mô có thể sẽ là những tình huống xảy ra thường xuyên trong trong năm nay, làm tăng nhu cầu về vàng như một tài sản lưu trữ của cải và phòng ngừa rủi ro” – chuyên gia của WGC dự báo.

Nhu cầu vàng trang sức giảm

Theo ông Shaokai Fan - Giám đốc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (không bao gồm Trung Quốc) kiêm Giám đốc Ngân hàng Trung ương Toàn cầu của Hội đồng Vàng thế giới, nhu cầu vàng trang sức toàn cầu quý IV/2024 giảm xuống mức thấp trong vòng bốn năm trở lại đây, chủ yếu do nhu cầu yếu đi ở Trung Quốc (giảm 28%), trong khi tại Ấn Độ vẫn ổn định khi chỉ giảm 2%.

Đỗ Doãn

Đọc thêm

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) ghi nhận đà tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.517,7 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ. Cùng với kết quả kinh doanh, MIC năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++ về năng lực tài chính và bbb về tín nhiệm nhà phát hành dài hạn, với triển vọng ổn định.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
SHB báo lãi hơn 9.000 tỷ đồng nhờ thu ngoài lãi bứt tốc, tổng tài sản tiến sát 1 triệu tỷ đồng

SHB báo lãi hơn 9.000 tỷ đồng nhờ thu ngoài lãi bứt tốc, tổng tài sản tiến sát 1 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - SHB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm đạt 9.092 tỷ đồng, tăng 1,6% so với cùng kỳ, động lực tăng trưởng đến từ các nguồn thu ngoài lãi tăng gần gấp 3 lần. SHB tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động gắn với kiểm soát chất lượng tài sản, dư nợ cấp tín dụng SHB đạt 664.280 tỷ đồng, tăng 7,22% so với cuối năm 2025, tỷ lệ nợ xấu duy trì 1,76%.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 141,000
Hà Nội - PNJ 136,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 141,000
Miền Tây - PNJ 136,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 02/08/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18203 18788
CAD 18223 18499 19121
CHF 31912 32293 32942
CNY 0 3854 3947
EUR 29680 29902 30985
GBP 34645 35037 35975
HKD 0 3222 3425
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15135 15730
SGD 19962 20244 20827
THB 702 765 819
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/08/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80