Hội đồng vàng thế giới nhận định giá vàng tiếp tục tăng trong thời gian tới

Đỗ Doãn
(TBTCO) - Theo Hội đồng vàng thế giới, bức tranh kinh tế tổng thể toàn cầu khó dự đoán và sự không chắc chắn có thể thúc đẩy giá vàng tăng, bởi nhu cầu tìm đến vàng như một tài sản lưu trữ an toàn từ các tổ chức, cá nhân và khu vực chính thức có thể tăng cao trong những tháng tới.
aa
Giá vàng lên đỉnh lịch sử: Người mua có thể vẫn kỳ vọng giá vàng còn tăng Giá vàng sẽ khó giảm, nếu giàn khoan HD-981 còn chưa rút

Nhu cầu mua vàng tăng

Liên quan đến giá vàng, Báo cáo Xu hướng nhu cầu vàng quý I/2025 vừa được Hội đồng vàng thế giới (WGC) công bố cho thấy, tổng nhu cầu vàng (bao gồm cả thị trường phi tập trung - OTC) là 1.206 tấn, tăng 1% so với cùng kỳ năm ngoái, trong bối cảnh giá vàng cao kỷ lục, vượt ngưỡng 3.000 USD/ounce.

Hội đồng vàng thế giới nhận định giá vàng tiếp tục tăng trong thời gian tới
Nhu cầu đầu tư vàng trong quý I/2025 tăng mạnh bất chấp giá vàng liên tục đạt đỉnh. Ảnh minh họa

Sự phục hồi của các quỹ hoán đổi danh mục (ETF) vàng đã thúc đẩy tổng nhu cầu đầu tư tăng hơn gấp đôi lên 552 tấn, tăng 170% so với cùng kỳ năm ngoái và đạt mức cao nhất kể từ quý I/2022. Dòng vốn đổ vào các quỹ ETF đã tăng nhanh trên toàn thế giới, đạt tổng cộng tương đương 226 tấn khi đà tăng giá và sự không chắc chắn về chính sách thuế quan đã thúc đẩy các nhà đầu tư tìm đến vàng như một tài sản tích trữ an toàn.

Tổng nhu cầu vàng miếng và vàng xu tăng 3% so với cùng kỳ năm ngoái, duy trì ở mức cao với 325 tấn trong quý, được thúc đẩy bởi sự gia tăng mạnh mẽ của hoạt động đầu tư bán lẻ tại Trung Quốc, quốc gia được ghi nhận là có nhu cầu đầu tư bán lẻ vàng quý I đạt mức cao thứ hai trong lịch sử.

Trong khi đó, các ngân hàng trung ương bước vào năm thứ 16 liên tiếp duy trì mua ròng vàng, bổ sung thêm 244 tấn vào lượng vàng dự trữ toàn cầu. Mặc dù mức cầu vàng này thấp hơn 21% so với cùng kỳ năm trước, nhưng vẫn cho thấy nhu cầu mạnh mẽ ứng với hoạt động mua vào ổn định ở mức trung bình theo quý trong ba năm qua.

Các nhà đầu tư phương Đông đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phần lớn nhu cầu vàng miếng và vàng xu trên toàn cầu, bù đắp cho sự sụt giảm ở phương Tây khi nhu cầu vàng tại Mỹ giảm 22% so với cùng kỳ năm trước. Châu Âu có sự phục hồi nhẹ về nhu cầu vàng, đạt 12 tấn trong quý, nhưng con số này tăng lên từ một điểm khởi đầu rất thấp vào cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung, nhu cầu đầu tư vàng miếng và vàng xu đã tăng mạnh hơn so với cùng kỳ năm trước tại các thị trường ASEAN. Không có gì ngạc nhiên khi nhu cầu về vàng trang sức bị ảnh hưởng tiêu cực bởi giá vàng đạt 20 mức cao kỷ lục trong quý.

Khối lượng giao dịch vàng trang sức giảm xuống mức thấp nhất kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát, nhưng dù đối mặt với áp lực giá cực lớn, thị trường vàng trang sức vẫn giữ được sự ổn định, nhất là về giá trị, với chi tiêu của người tiêu dùng cho vàng trang sức đã tăng 9% so với cùng kỳ, đạt 35 tỷ USD, ngoại trừ Trung Quốc.

Giá trị giao dịch vàng tăng kỷ lục trong năm 2024. Ảnh WGC.
Hội đồng vàng thế giới dự báo giá vàng sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới. Ảnh WGC.

Lo ngại kinh tế thiếu ổn định

Cũng theo báo cáo của WGC, các thị trường ASEAN đi theo xu hướng toàn cầu, với nhu cầu vàng trang sức giảm do giá vàng cao kỷ lục. Dù Việt Nam ghi nhận tiêu thụ vàng trang sức tăng 5% so với quý IV/2024, nhưng nhu cầu vàng trang sức vẫn giảm 15% so với cùng kỳ năm trước do nguồn cung các sản phẩm từ vàng bị hạn chế, đẩy chênh lệch giá vàng lên mức cao, trên cơ sở quý I/2024 có mức đầu tư vàng cao nhất trong vòng 10 năm qua.

Việt Nam cũng ghi nhận nhu cầu vàng miếng và vàng xu tăng 46% so với quý IV/2024.

Ông Shaokai Fan - Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương (không bao gồm Trung Quốc) kiêm Giám đốc Ngân hàng Trung ương Toàn cầu tại WGC cho biết, trong bối cảnh gia tăng rủi ro kinh tế và địa chính trị, nhu cầu đầu tư vào vàng dự kiến ​​sẽ tăng trong các kênh đầu tư như quỹ ETF và OTC, trong khi đầu tư vàng miếng và vàng xu có thể vẫn giữ được sức hấp dẫn. Ngược lại, nhu cầu đối với vàng trang sức có thể còn yếu do giá vàng cao.

Theo nhận đinh từ bà Louise Street - Chuyên gia phân tích thị trường cấp cao tại WGC, thị trường toàn cầu năm nay đã có một khởi đầu đầy biến động khi bất ổn thương mại, các thông báo về chính sách khó lường từ Mỹ, căng thẳng địa chính trị kéo dài và những lo ngại về suy thoái kinh tế có thể quay trở lại, đã tạo ra một môi trường đầy bất ổn cho các nhà đầu tư.

Trong bối cảnh này, nhu cầu đầu tư vàng đã đẩy nhu cầu về vàng trong quý I/2025 đạt mức cao nhất kể từ năm 2016.

“Trong thời gian tới, bức tranh kinh tế tổng thể vẫn khó dự đoán, và sự không chắc chắn đó có thể thúc đẩy giá vàng tăng, bởi khi kinh tế có nhiều diễn biến bất ổn, nhu cầu tìm đến vàng như một tài sản lưu trữ an toàn từ các tổ chức, cá nhân và khu vực chính thức có thể tăng cao” - bà Louise Street dự báo.

Theo thống kê của WGC, trong 10 tháng qua, các nhà đầu tư đã quay lại đầu tư vào các quỹ ETF vàng, tăng mạnh phân bổ đầu tư kể từ quý III/2024. Tính đến tháng 4/2025, dòng vốn chảy vào các quỹ ETF từ khu vực châu Á đã vượt qua tổng dòng vốn của cả quý I/2025, nhưng dù vậy, thị trường vẫn còn dư địa để tăng trưởng, khi lượng vàng nắm giữ của các quỹ này trên toàn cầu hiện thấp hơn 10% so với mức cao được ghi nhận vào năm 2020.
Đỗ Doãn

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 27/5: Vàng nhẫn có nơi giảm tới 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 27/5: Vàng nhẫn có nơi giảm tới 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 60 USD/ounce, lùi về quanh ngưỡng 4.508 USD/ounce. Bên cạnh đó, giá vàng trong nước cũng đồng loạt điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn. Riêng vàng nhẫn, DOJI và PNJ giảm 1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, hiện giao dịch quanh mức 157,5 - 160,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/5: Giá vàng trong nước lùi về vùng 158,5 - 161,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 24/5: Giá vàng trong nước lùi về vùng 158,5 - 161,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch vàng miếng và vàng nhẫn lùi về quanh ngưỡng 158,5 - 161,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/5: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 23/5: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm xuống quanh mức 4.508,5 USD/ounce. Bên cạnh đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng đồng loạt lùi về vùng 159 - 162 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 22/5: Giá vàng trong nước tăng tới 900.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/5: Giá vàng trong nước tăng tới 900.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đảo chiều tăng tại nhiều thương hiệu lớn, với mức điều chỉnh cao nhất lên tới 900.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/5: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 21/5: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa vàng miếng và vàng nhẫn phổ biến lùi về vùng 158,5 - 162 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới đảo chiều tăng lên quanh mốc 4.545 USD/ounce.
Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng miếng phổ biến lùi về vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/5: Giá vàng thế giới đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/5: Giá vàng thế giới đảo chiều tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng ngày 19/5 đảo chiều tăng trở lại lên quanh mức 4.574 USD/ounce. Bên canh đó, giá vàng trong nước cũng tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80