‘Khẩu vị’ riêng của Sacombank và Eximbank từ cơ cấu khách hàng

Chí Tín
Eximbank và Sacombank là 2 ngân hàng có mối quan hệ gần gũi nhất định, nhưng tệp khách hàng của mỗi ngân hàng một khác, thể hiện đặc điểm kinh doanh riêng của từng ngân hàng. Theo đó, cơ hội lẫn rủi ro cũng có những khác biệt...
aa

stb

Sacombank hiện đang trong giai đoạn thực hiện Đề án tái cơ cấu. Ảnh: T.L.

Khác nhau về cơ cấu khách hàng

Về mối quan hệ giữa 2 ngân hàng này, Eximbank là một cổ đông quan trọng của Sacombank, với tỷ lệ nắm giữ là 4,69% cổ phần. Tỷ lệ này chỉ thua kém 1 cổ đông cá nhân là ông Trầm Trọng Ngân. Tuy ít nhiều có mối quan hệ sở hữu như trên, nhưng thực tế tính chất kinh doanh của 2 ngân hàng này cũng có nhiều điểm khác nhau.

Sacombank có quy mô vốn chủ sở hữu là 29.615 tỷ đồng, lớn hơn gấp khoảng 1,7 lần so với người anh em Eximbank. Tuy nhiên, sức ảnh hưởng trên thị trường tín dụng của Sacombank thậm chí còn lấn át hơn nhiều. Quy mô dư nợ cho vay khách hàng của Sacombank tại thời điểm giữa năm 2021 lên tới hơn 347 nghìn tỷ đồng, gấp hơn 3 lần so với quy mô dư nợ của Eximbank.

Không chỉ khác nhau về quy mô cho vay, 2 ngân hàng này cũng có sự khác nhau khá nhiều về mặt đối tượng khách hàng vay vốn. Sacombank chịu ảnh hưởng đáng kể từ nhóm khách hàng thuộc ngành hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ. Tỷ trọng cho vay khách hàng nhóm này vượt trội hơn hẳn các nhóm ngành khác, chiếm tới 46,36% dư nợ cho vay và bỏ xa tỷ trọng của nhóm có tỷ trọng đứng thứ hai là nông lâm thủy sản (10,8%).

So với thời điểm đầu năm, Sacombank đã tỏ ra bị gia tăng sự phụ thuộc vào nhóm khách hàng thuộc ngành hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ nhiều hơn, khi tỷ trọng nhóm ngành này thời điểm 1/1/2021 chỉ là 42,43%. Trong khi đó, 3 nhóm ngành tiếp theo đều giảm tỷ trọng cho vay so với đầu năm; đó là các nhóm ngành nông lâm thủy sản, hoạt động cho thuê và kinh doanh ô tô xe máy.

Trong khi đó, cơ cấu nhóm khách hàng của Eximbank cho thấy sự khác hẳn so với người đồng nghiệp Sacombank, sự chênh lệch về tỷ trọng cho vay trong những nhóm khách hàng đứng đầu cũng có nhiều điểm khác.

Với Sacombank, nhóm kinh doanh ô tô xe máy chỉ đứng thứ tư thì nhóm khách hàng này lại được ưu ái hơn ở Eximbank khi giữ vị trí dẫn đầu với tỷ trọng 33,6%. Tuy nhiên, tại Eximbank, khoảng cách của nhóm khách hàng dẫn đầu với các nhóm tiếp theo không quá chênh lệch. Nhóm khách hàng thứ hai tại ngân hàng này là nhóm kinh doanh bất động sản với 25,5% và nhóm tiếp theo là công nghiệp chế biến chế tạo với 13,9%.

Cơ hội và rủi ro khác nhau

Sự khác nhau về các nhóm khách hàng rõ ràng sẽ tạo ra cho mỗi ngân hàng cơ hội và rủi ro khác nhau, do trong từng bối cảnh kinh tế, từng ngành nghề đều chịu tác động riêng.

So sánh về hiệu quả kinh doanh, Sacombank đang cho thấy sự vượt trội hơn về các chỉ số thu nhập.

Cụ thể, ngân hàng này có tổng thu nhập hoạt động trong nửa đầu năm 2021 lên tới 8.459 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế lên tới 1.790 tỷ đồng. Các con số này tỏ ra vượt trội hơn hẳn so với các chỉ tiêu tương ứng của Eximbank với giá trị 2 chỉ tiêu này lần lượt chỉ là 2.393 tỷ đồng và 502 tỷ đồng.

Loại trừ yếu tố lợi thế về quy mô, tỷ lệ thu nhập hoạt động/vốn chủ sở hữu của Sacombank cũng cao hơn so với Eximbank, lần lượt là 28,6% so với 13,9%. Tương tự, tỷ lệ lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu giai đoạn nửa đầu năm 2021 của Sacombank cũng ghi nhận mức 6%, trong khi của Eximbank chỉ là 2,9%.

So sánh với quy cho vay, tổng thu nhập lãi thuần/quy mô cho khách hàng (bình quân đầu kỳ - cuối kỳ) của Sacombank là khoảng 2,5%; cũng đạt mức nhỉnh hơn chút ít so với mức 2,35% của Eximbank. Trong khi đó, lợi nhuận sau thuế/quy mô cho vay khách hàng bình quân của Sacombank là 0,53%, còn của Eximbank là 0,49%.

Các chỉ trên cho thấy Sacombank đang có phần ưu thế hơn xét hiệu quả kinh doanh, nhưng Eximbank lại cho thấy họ có độ an toàn cao hơn về quản trị rủi ro cho vay, xét về tỷ trọng giá trị các khoản nợ rủi ro trên tổng dư nợ.

Tại thời điểm 30/6/2021, số tiền mà Eximbank phải trích lập dự phòng rủi ro cho vay là 1.074 tỷ đồng, trong khi đó của Sacombank lên tới 5.175 tỷ đồng. Đương nhiên, việc trích lập dự phòng được coi là cao hay thấp sẽ cần phải so sánh với quy mô cho vay của từng ngân hàng.

Tính theo tỷ lệ về quy mô dự nợ cho vay khách hàng, tỷ lệ rủi ro cho vay mà Eximbank phải trích lập là hơn 1%; trong khi đó tỷ lệ này của Sacombank ở mức cao hơn, với khoảng 1,5%.

Riêng với Sacombank, ngân hàng này đang thực hiện đề án tái cơ cấu, với thời gian thực hiện đến hết năm 2025. Theo đề án này, ngân hàng được thực hiện trích lập và phân bổ dự phòng rủi ro tín dụng theo năng lực tài chính trong thời gian thực hiện đề án. Theo đó, các khoản nợ có khả năng mất vốn ghi nhận tại thời điểm 30/6/2021 (giá trị là 3.930 tỷ đồng) đã được tính bao gồm khoản 1.923 tỷ đồng được trích lập dự phòng rủi ro tín dụng dựa trên năng lực tài chính theo đề án tái cơ cấu nêu trên./.

So sánh các chỉ số tài chính cơ bản của Eximbank và Sacombank 6 tháng đầu năm 2021 (tỷ đồng)

Chỉ tiêu

Eximbank

Sacombank

Vốn chủ sở hữu

17.253

29.615

Cho vay khách hàng

105.279

347.018

Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng

1.074

5.175

Tổng thu nhập hoạt động

2.393

8.459

Lợi nhuận sau thuế

502

1.790

Cơ cấu khách hàng của Sacombank

Nhóm ngành

Dư nợ (tỷ đồng)

Tỷ lệ

Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ

163.270

46,36%

Nông lâm thủy sản

38.024

10,8%

Hoạt động làm thuê

36.526

10,37%

Kinh doanh ô tô xe máy

31.214

8,86%

Cơ cấu khách hàng của Eximbank

Nhóm ngành

Dư nợ (tỷ đồng)

Tỷ lệ

Kinh doanh ô tô xe máy

35.737

33,6%

Kinh doanh bất động sản

27.095

25,5%

Công nghiệp chế biến chế tạo

14.765

13,9%

Xây dựng

5.844

5,5%


Chí Tín

Chí Tín

Đọc thêm

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương  hiệu văn hóa

Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương hiệu văn hóa

(TBTCO) - Ngày 22/9, trong khuôn khổ Hội nghị Đối thoại Văn hóa và Tri thức 2026 (Dialogue of Culture and Knowledge), Liên hiệp các Hội UNESCO khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ vinh danh Nam A Bank (NAB) - Thương hiệu vì Văn hóa và Phát triển bền vững UNESCO - Ngân hàng đột phá trong xây dựng và phát triển bền vững gắn chặt lợi ích cộng đồng Nhân văn, Văn hóa thông qua mô hình "Ngân hàng Trà".
LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) trao 43 suất học bổng sau đại học cho học viên Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trực thuộc ĐHQG-HCM, với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

(TBTCO) - Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối quý II/2026, tiền gửi thanh toán của khách hàng cá nhân giảm gần 10% so với cùng kỳ, xuống khoảng 1,22 triệu tỷ đồng, dù số tài khoản tiếp tục tăng lên mức kỷ lục. Trong bối cảnh lãi suất tiền gửi kỳ hạn neo ở mức cao, các ngân hàng đẩy mạnh sản phẩm lợi suất cao nhằm giữ dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA).
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 25/09/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17722 17995 18579
CAD 17840 18114 18733
CHF 30682 31058 31704
CNY 0 3827 3923
EUR 28978 29197 30280
GBP 33603 33992 34929
HKD 0 3181 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14407 14995
SGD 19795 20077 20648
THB 695 758 811
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,695 25,815 26,500
USD20 25,665 25,815 26,500
USD1 25,645 25,815 26,500
AUD 17,921 18,021 19,134
EUR 28,908 29,008 30,678
CAD 17,968 18,068 19,384
SGD 20,010 20,160 20,724
JPY 160.73 162.23 167.83
GBP 33,737 33,887 34,967
XAU 14,138,000 0 14,442,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 757 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/09/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30