Khó xử với tỷ giá USD/VND

Thanh An
(TBTCVN) - Từ đầu năm đến nay, nhiều đồng tiền trên thế giới đã giảm giá đáng kể so với USD. Trong khi đó, tỷ giá USD/VND hầu như không biến động.
aa

ty gia

Khả năng giảm giá VND được xét đến như một trong những giải pháp để hỗ trợ xuất khẩu cho hàng hoá Việt Nam.

Điều này góp phần ổn định kinh tế vĩ mô nhưng lại gây khó cho nỗ lực thúc đẩy xuất khẩu, khi kim ngạch xuất khẩu có mức tăng rất chậm so với những năm trước.

Xuất khẩu tăng yếu, băn khoăn giá trị đồng tiền

Từ đầu năm đến nay, các biến động trên thị trường tiền tệ thế giới chịu tác động chủ yếu từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, các đòn trả đũa của hai bên và động thái giảm giá đồng Nhân dân tệ (CNY) của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC). Bên cạnh đó, các quốc gia khác cũng có xu hướng mạnh tay nới lỏng tiền tệ để hỗ trợ xuất khẩu.

Đầu tháng 8, CNY lần đầu tiên giảm dưới mốc 7 CNY đổi 1 USD kể từ khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Ngày 22/8, tỷ giá USD/CNY thiết lập đáy mới khi CNY giảm giá 0,15% so với USD, về mức 7,074 CNY đổi được 1 USD.

Để kích thích nền kinh tế hơn nữa, Trung Quốc vừa bơm ra 400 tỷ CNY (tương đương 56,9 tỷ USD) kỳ hạn 1 năm, lãi suất 3,3%/năm nhằm hỗ trợ vốn để các ngân hàng thương mại đẩy mạnh cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời bơm qua thị trường mở khoảng 130 tỷ CNY (tương đương 18 tỷ USD).

Từ phía Mỹ, quốc gia này tuyên bố ủng hộ Brexit không thỏa thuận và sẽ đẩy nhanh các thỏa thuận thương mại với Anh đã hãm lại đà giảm của đồng Bảng Anh (GBP). Các đồng tiền của châu Âu đều giảm giá đáng kể so với USD, điển hình như đồng EUR, tính từ đầu năm tới nay, EUR đã mất giá khoảng 3,3% so với USD.

Tại Việt Nam, tỷ giá USD/VND ổn định từ đầu năm đến nay. Nguồn cung ngoại tệ giai đoạn tới được dự báo vẫn khả quan nhờ các giao dịch bán vốn cổ phần, cán cân thương mại thặng dư, triển vọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn tích cực và sắp đến mùa kiều hối cuối năm.

Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu từ đầu năm đến nay liên tục tăng trưởng ở mức thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm ngoái. Số liệu thống kê mới nhất cho thấy, 7 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu chỉ tăng 7,5% so với cùng kỳ, còn mức tăng của 7 tháng đầu năm 2018 là 15,3%.

Do đó, việc giảm giá VND được xét đến như một trong những giải pháp để hỗ trợ xuất khẩu cho hàng hoá Việt Nam. Chia sẻ quan điểm về điều này, ông Nguyễn Trí Hiếu – chuyên gia ngân hàng nói: “Cần giảm giá VND hơn nữa để giảm áp lực với giá cả hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam khi các đồng tiền khác trên thế giới có xu hướng giảm giá”.

Ổn định vĩ mô, tránh bị gắn mác thao túng tiền tệ

Không hẳn đồng tình với quan điểm nên giảm giá VND, TS. Đặng Đức Anh - Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF) cho rằng, cần theo dõi và đánh giá cụ thể hơn trước khi đưa ra quyết định về tỷ giá. Bởi lẽ, VND giảm giá thì giá bán hàng xuất khẩu có thể giảm, phần lớn nguyên liệu đầu vào của hàng hoá Việt Nam được nhập khẩu từ nước khác, do đó, nếu giá thành rẻ mà không đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu thì cũng không hẳn là có lợi.

Bên cạnh đó, một yếu tố bất lợi có thể xảy ra khi giảm giá VND là nguy cơ Mỹ xếp Việt Nam vào danh sách quốc gia thao túng tiền tệ. Ngày 5/8, Mỹ đã quy kết Trung Quốc vào danh sách này. Trước đó, Mỹ đã xếp Việt Nam trong danh sách theo dõi về khả năng thao túng tiền tệ.

Thuật ngữ “quốc gia thao túng tiền tệ" được Bộ Tài chính Mỹ định nghĩa là một quốc gia cố ý điều chỉnh tỷ giá để tác động đến cán cân thanh toán hoặc đạt được lợi thế cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại quốc tế. Theo tiêu chí quy định đã được điều chỉnh của Mỹ, một đối tác thương mại bị coi là thao túng tiền tệ nếu thặng dư thương mại ít nhất 20 tỷ USD với Mỹ, thặng dư tài khoản vãng lai tương đương ít nhất 2% GDP và thị trường ngoại hối luôn chịu sự chi phối một chiều.

gia

Theo TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng BIDV, hiện tại, Việt Nam không bị Mỹ "gắn mác" thao túng tiền tệ song đã ở trong danh sách 21 nước thuộc diện theo dõi và cũng là quốc gia có khả năng bị chuyển sang nhóm các nước thao túng tiền tệ, do Việt Nam đã chạm hai ngưỡng là cán cân thương mại với Mỹ thặng dư trên 20 tỷ USD và thặng dư tài khoản vãng lai trên 2% GDP. Đây là rủi ro đối với Việt Nam trong những lần rà soát tiếp theo của Bộ Tài chính Mỹ (mà gần nhất là tháng 9/2019).

TS. Cấn Văn Lực khuyến nghị, Việt Nam cần tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý; cần thực hiện linh hoạt và cần giải trình với Mỹ việc điều hành tỷ giá trong thời gian qua là phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế cũng như đặc thù của nền kinh tế Việt Nam, không nhằm tạo lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế không lành mạnh.

Đặc biệt, Việt Nam cần hết sức bình tĩnh, không để bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh tiền tệ nếu có và không nên phá giá đồng tiền vì điều chỉnh tỷ giá liên quan đến nhiều mặt của nền kinh tế (không chỉ liên quan đến xuất khẩu, mà còn nhập khẩu, nợ nước ngoài, áp lực lạm phát…) và có thể tăng rủi ro bị Mỹ “gắn mác” thao túng tiền tệ.

Thay vào đó, Việt Nam cần kiên định chính sách tỷ giá chủ động, linh hoạt, tiếp tục củng cố dự trữ ngoại hối, kết hợp với truyền thông một cách hiệu quả nhằm kiểm soát yếu tố tâm lý, rủi ro lan truyền.

Trong khi đó, ông Nguyễn Trí Hiếu nhận định: “Ít có khả năng Việt Nam bị đưa vào danh sách thao túng tiền tệ. Trước hết, quy mô xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ là tương đối thấp so với nhiều quốc gia khác. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã và đang thực hiện chính sách tỷ giá thận trọng trong thời gian qua, bằng chứng là tỷ giá USD/VND biến động không đáng kể từ đầu năm đến nay”.

Mặt khác, theo vị chuyên gia này, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung do Mỹ “châm ngòi” không đơn thuần về khía cạnh ngoại thương mà nhiều khả năng là định hướng chính trị của Tổng thống Donald Trump trước thềm cuộc tranh cử năm nay. Điều này lại không xảy ra với Việt Nam. “Dù vậy, phải rất cẩn thận với việc hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và gian lận xuất xứ để tìm đường sang Mỹ. Nếu việc này xảy ra nhiều thì có nguy cơ Mỹ quay trở lại trừng phạt Việt Nam. Đây là vấn đề đáng quan ngại hơn là tỷ giá USD/VND” - ông Hiếu nhấn mạnh.

Việt Nam cần hết sức bình tĩnh, không để bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh tiền tệ nếu có và không nên phá giá. đồng tiền vì điều chỉnh tỷ giá liên quan đến nhiều mặt của nền kinh tế (không chỉ liên quan đến xuất khẩu, mà còn nhập khẩu, nợ nước ngoài, áp lực lạm phát...) và có thể tăng rủi ro bị Mỹ “gắn mác” thao túng tiền tệ.

TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia kinh tế trưởng của BIDV

Thanh An

Thanh An

Đọc thêm

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Trong khuôn khổ chiến lược đồng bộ thương hiệu toàn cầu của Tập đoàn Daiichi Life, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) chính thức giới thiệu nhận diện thương hiệu mới từ ngày 01/10/2026. Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình mới của công ty trên hành trình hơn 19 năm phát triển tại Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 32 USD/ounce, xuống 4.140,8 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng bán ra đồng loạt giảm 200.000 đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn tăng tại DOJI, Bảo Tín Minh Châu nhưng giảm tại PNJ và SJC.
Dồn dập huy động qua trái phiếu, SACOMBANK tính chào bán thêm 15.000 tỷ đồng sau loạt lô lãi suất cao

Dồn dập huy động qua trái phiếu, SACOMBANK tính chào bán thêm 15.000 tỷ đồng sau loạt lô lãi suất cao

(TBTCO) - SACOMBANK dự kiến chào bán ra công chúng tối đa 15.000 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 7 - 10 năm, với lãi suất thả nổi, biên độ tối đa 4,2%/năm. Kế hoạch diễn ra khi ngân hàng đẩy mạnh huy động qua trái phiếu, số dư kỳ phiếu, trái phiếu cuối tháng 6/2026 lên 18.300 tỷ đồng, cao nhất nhiều năm; một số lô gần đây có lãi suất lên tới 12,5%/năm.
VietinBank “bắt tay” GreenHouse và Ingrid International: Thúc đẩy hệ sinh thái  xanh AI và chuyển đổi số toàn diện

VietinBank “bắt tay” GreenHouse và Ingrid International: Thúc đẩy hệ sinh thái xanh AI và chuyển đổi số toàn diện

(TBTCO) - VietinBank chính thức triển khai hợp tác chiến lược 3 bên cùng Công ty Cổ phần Văn hóa Ngôi Nhà Xanh (GreenHouse) - đơn vị vận hành nền tảng và Ingrid International Pte. Ltd (Ingrid International) - đơn vị tư vấn chiến lược, phát triển hệ sinh thái, hướng tới xây dựng hệ sinh thái xanh AI & thông minh, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển bền vững tại Việt Nam.
FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 1/10/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam và Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) ký kết thỏa thuận hợp tác phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ qua kênh ngân hàng (bancassurance) trên toàn hệ thống BVBank.
Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

(TBTCO) - Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng chương trình giáo dục tài chính Cha-Ching với phiên bản trực tuyến hoàn toàn miễn phí, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận kiến thức quản lý tài chính dành cho trẻ em từ 7 - 12 tuổi. Đà Nẵng là thành phố đầu tiên được Prudential Việt Nam triển khai nền tảng trực tuyến này trong đợt mở rộng năm 2026, kết hợp với các hoạt động trực tiếp tại ba trường tiểu học trên địa bàn.
Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

(TBTCO) - Sau hành trình tích lũy bền bỉ và cú bứt tốc những năm gần đây, MB đã vượt 100.000 tỷ đồng vốn điều lệ, xác lập dấu mốc mới của ngành ngân hàng. Phía sau cột mốc này là không gian tăng trưởng rộng hơn, khi nguồn lực mới được chuyển hóa trên nền tảng vững chắc, MB sẽ nhảy vọt về vị thế trong giai đoạn phát triển mới.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 143,500
Hà Nội - PNJ 140,500 143,500
Đà Nẵng - PNJ 140,500 143,500
Miền Tây - PNJ 140,500 143,500
Tây Nguyên - PNJ 140,500 143,500
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 143,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,950 14,350
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,660 14,260
Trang sức 99.99 13,670 14,270
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 04/10/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17533 17806 18390
CAD 17699 17973 18596
CHF 30705 31081 31728
CNY 0 3833 3929
EUR 28610 28827 29907
GBP 33604 33992 34929
HKD 0 3180 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14290 14885
SGD 19762 20043 20627
THB 689 752 806
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,691 28,714 30,074
JPY 160.36 160.65 170.35
GBP 33,743 33,834 35,002
AUD 17,708 17,772 18,443
CAD 17,943 18,001 18,668
CHF 30,972 31,068 31,979
SGD 19,906 19,968 20,760
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 738.19 747.31 800.16
NZD 14,280 14,413 14,843
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,848 3,984
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.04 - 6,714.78
TWD 736.28 - 892.03
SAR - 6,805.99 7,169.58
KWD - 82,156 87,420
AED - 6,822 7,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25796 25796 26168
AUD 17679 17779 18707
CAD 17900 18000 19011
CHF 30972 31002 32579
CNY 3815.2 3840.2 3975.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28780 28810 30532
GBP 33814 33864 35633
HKD 0 3315 0
JPY 161.37 161.87 172.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14381 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19930 20060 20781
THB 0 718.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Cập nhật: 04/10/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30