Khôi phục niềm tin thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa tổ chức hội thảo “Khôi phục niềm tin ngành bảo hiểm nhân thọ: Tầm nhìn & Giải pháp”. Đây là nỗ lực của ngành bảo hiểm nhân thọ để củng cố niềm tin về một thị trường bảo hiểm nhân thọ lành mạnh, an toàn và minh bạch, tiếp tục chứng tỏ vai trò quan trọng của bảo hiểm nhân thọ đối với sự phát triển kinh tế và hỗ trợ các chính sách an sinh xã hội của Quốc gia.
aa
Khôi phục niềm tin thị trường bảo hiểm nhân thọ
Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh: T.L

Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Nguyễn Xuân Việt - Chủ tịch Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam khẳng định: “Hội thảo là cơ hội để các doanh nghiệp thành viên của Hiệp hội cùng đánh giá những giải pháp từ phía cơ quan quản lý, các doanh nghiệp bảo hiểm để khắc phục được những tồn tại, hạn chế của thị trường, giúp cho thị trường phát triển ngày càng lành mạnh, bền vững”.

Tại hội thảo, các chuyên gia độc lập và đại diện doanh nghiệp đã tập trung thảo luận các vấn đề tổng quan về tình hình thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam hiện nay và những giải pháp cho việc khôi phục niềm tin trong ngành bảo hiểm.

Ông Ngô Trung Dũng - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam cho biết trong thời gian qua các cơ quan quản lý và doanh nghiệp đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm mang đến sản phẩm và dịch vụ tốt nhất, khôi phục niềm tin của khách hàng như: cải tiến sản phẩm sao cho dễ hiểu, dễ tiếp cận hơn với người dân; cải tiến các quy trình nghiệp vụ giúp việc thẩm định phát hành hợp đồng bảo hiểm; giải quyết quyền lợi bảo hiểm được nhanh chóng, thuận tiện hơn cho khách hàng…

Tham gia hội thảo với phần trình bày chuyên đề về “Tác động của bảo hiểm đến sự phát triển kinh tế ở Việt Nam”, đại diện Prudential cho biết báo cáo này là một phần trong dự án nghiên cứu hợp tác với PwC thực hiện tại sáu thị trường ASEAN.

Đại diện PwC, bà Wai-duen Lee - Phó Giám đốc của PwC Hồng Kông trong phần trình bày nhấn manh: Khả năng chi trả và nhu cầu về các sản phẩm chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm tại Việt Nam đang ngày càng tăng. Báo cáo cũng nêu lên sự đóng góp của bảo hiểm nhân thọ vào việc tích lũy hay đầu tư, có tác động thuận lợi đến đầu tư hoặc tích lũy vốn, từ đó sẽ thúc đẩy hơn nữa tăng trưởng kinh tế. Báo cáo cho thấy ngành bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính khi là những nhà đầu tư lớn trên thị trường tài chính, có mối liên kết chặt chẽ với các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác và góp phần bảo vệ sự ổn định của bảng cân đối tài sản của các hộ gia đình và các doanh nghiệp.

Đại diện một số doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tham dự cũng có những chia sẻ cụ thể hơn về những giải pháp đang áp dụng, giúp mang lại những hiệu quả thiết thực. Cụ thể, Manulife cho ra mắt quy trình xác thực thông tin và giám sát phát hành hợp đồng bảo hiểm M-Pro; Prudential áp dụng quy trình kiểm tra độc lập trước khi phát hành hợp đồng bảo hiểm và quy trình khảo sát tNPS tại mỗi giao dịch của khách hàng; FWD ra mắt tính năng chú thích thuật ngữ bảo hiểm tức thời; Generali ra mắt công cụ định danh và xác thực khách hàng điện tử; AIA cho ra mắt ứng dụng AIA+; Dai-i-chi cho ra mắt dịch vụ Voicebot 24/7 và Chatbot 24/7 để hỗ trợ khách hàng…

Buổi tọa đàm cũng ghi nhận nhiều ý kiến và tranh luận tích cực của các đại biểu với nội dung chính xoay quanh những chủ đề như: dư địa và tiềm năng cho sự phát triển của ngành bảo hiểm nhân thọ Việt Nam; sự quan tâm và định hướng của Chính phủ đối với ngành bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng; những đóng góp và tác động của bảo hiểm nhân thọ đối với nền kinh tế và an sinh xã hội; những giải pháp từ phía cơ quan quản lý, từ phía doanh nghiệp cũng như vai trò của khách hàng và đại lý trong việc góp phần xây dựng một thị trường bảo hiểm phát triển an toàn, lành mạnh và bền vững...

Số tiền chi trả bảo hiểm tăng mạnh

Theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, tính đến tháng 3/2024, tổng tài sản toàn ngành bảo hiểm nhân thọ ước đạt 801.307 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm ngoái; tổng số tiền đầu tư ước đạt 703.031 tỷ đồng, tăng 8,7%; tổng dự phòng nghiệp vụ đạt 581.857 tỷ đồng, tăng 6,5%; vốn chủ sở hữu đạt 159.409 tỷ đồng, tăng 10,8%. Đáng chú ý, tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm trong quý I/2024 đạt 15.483 tỷ đồng, tăng 35% so với cùng kỳ 2023.

Hiện nay, khuôn khổ pháp lý về kinh doanh bảo hiểm được hình thành đầy đủ và đồng bộ, đảm bảo môi trường pháp lý công khai, minh bạch và bình đẳng cho các doanh nghiệp bảo hiểm thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động trên thị trường.

Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2022 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2023 cùng các văn bản Nghị định, Thông tư hướng dẫn cũng đã được hoàn thiện đồng bộ để tạo cơ sở cho thị trường bảo hiểm Việt Nam minh bạch, chuyên nghiệp.

Hồng Chi

Đọc thêm

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Nhiều địa phương chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội từ ngày 1/6

Nhiều địa phương chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội từ ngày 1/6

(TBTCO) - Lịch chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội tháng 6/2026 sẽ được thực hiện theo 2 nhóm thời gian chính, tùy thuộc kế hoạch tổ chức tại từng tỉnh, thành phố. Trong đó, có 21 tỉnh, thành phố sẽ bắt đầu chi trả từ ngày 1/6.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80