Kiểm soát chi NSNN: Sửa đổi quy định cam kết chi phù hợp với thực tế

Công chức KBNN Hải Dương đang rà soát các thủ tục thanh toán vốn của khách hàng.
Trong bối cảnh công tác quản lý dự toán còn nhiều bất cập, CKC được coi là giải pháp hữu hiệu hỗ trợ cơ quan kho bạc và các đơn vị dự toán trong việc kiểm soát chi tiêu ngân sách, ngăn chặn nợ đọng, góp phần đảm bảo an ninh tài chính. Tuy nhiên, qua 6 năm triển khai, công tác này cũng dần bộc lộ những hạn chế cần hoàn thiện hơn nữa trong thời gian tới.
Hỗ trợ hiệu quả trong kiểm soát chi thường xuyên và chi đầu tư
Thông tin từ KBNN cho biết, thời gian đầu khi thực hiện CKC cũng gặp một số khó khăn nhất định. Tuy nhiên, khi Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 40/2016/TT- BTC (TT40) sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 113/2008/TT- BTC (TT113) hướng dẫn quản lý và kiểm soát CKC đã giúp cho công tác kiểm soát chi (KSC) an toàn, hiệu quả hơn.
Cam kết chi là việc đơn vị SDNS cam kết sử dụng dự toán, kế hoạch vốn được giao hàng năm (có thể một phần hay toàn bộ) để thanh toán cho hợp đồng đã được ký giữa đơn vị SDNS với nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Giá trị của khoản CKC bằng số kinh phí dự kiến bố trí cho hợp đồng trong năm, đảm bảo trong phạm vi dự toán, kế hoạch vốn năm được duyệt và giá trị hợp đồng còn được phép CKC. CKC hiện được phân chia, quản lý theo dự toán giao là CKC thường xuyên và CKC đầu tư với mức hợp đồng phải CKC có giá trị khác nhau, tương ứng là từ 200 triệu đồng trở lên đối với chi thường xuyên và từ 1 tỷ đồng trở lên trong chi đầu tư xây dựng cơ bản.
Các quy định về CKC, nhất là việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi CKC không đúng thời hạn quy định, hành vi vi phạm quy định về điều kiện chi NSNN đã buộc các đơn vị sử dụng ngân sách (SDNS) chi thường xuyên (đối với các khoản mua sắm có giá trị cao) và đặc biệt là các chủ đầu tư chỉ tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký hợp đồng xây dựng, hợp đồng mua sắm khi đã được bố trí nguồn vốn để thanh toán. Đồng thời, khắc phục được tình trạng cứ ký hợp đồng và nhà thầu bỏ vốn ra thi công, sau đó đi tìm nguồn vốn để thanh toán, tạo môi trường cho cơ chế “xin, cho” phát triển mạnh và làm phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản, nợ đọng trong mua sắm tài sản.
Đặc biệt, với việc điều chỉnh về thời hạn gửi CKC trong năm đầu tiên phát sinh hợp đồng từ “trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng” thành “trong vòng 10 ngày làm việc kể từ khi hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa đơn vị dự toán, chủ đầu tư với nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ, nhà thầu có hiệu lực” đã giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa đơn vị giao dịch trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực KBNN, hạn chế vi phạm thời hạn CKC theo quy định. Đồng thời, điều này cũng hoàn toàn phù hợp với các quy định hiện nay về hợp đồng dân sự, mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng chỉ được xem xét khi hợp đồng đó chính thức có hiệu lực.
Cần tiếp tục hoàn thiện
Theo ghi nhận của phóng viên tại các KBNN địa phương, khi thực hiện TT40 đã khai thông được rất nhiều vấn đề còn vướng mắc trong quá trình triển khai nghiệp vụ. Tuy nhiên, vẫn còn một số vướng mắc nảy sinh cần sớm được khắc phục.
Cụ thể như tại KBNN Đồng Tháp, một vướng mắc được các công chức làm công tác KSC nêu ra là các thời hạn trong CKC bao gồm thời hạn gửi đề nghị CKC sau khi hợp đồng có hiệu lực hoặc được ký kết, thời hạn gửi đề nghị CKC đối với hợp đồng thực hiện trong nhiều năm, hợp đồng được bổ sung dự toán, hợp đồng bổ sung hay điều chỉnh giá trị hợp đồng… Việc kiểm soát các thời hạn này của khách hàng bộc lộ nhiều bất cập do cách thức tổ chức công việc, nhất là công việc mua sắm, sửa chữa, xây dựng tại các đơn vị SDNS chưa được khoa học và là một trong những vi phạm thủ tục hành chính bị xử phạt nhiều.
Tại KBNN Thái Nguyên, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không gửi hoặc gửi cam kết chậm quá thời hạn quy định chưa nhận được sự đồng thuận của các đơn vị SDNS. Trong thực tế, đây là lỗi các đơn vị SDNS hay mắc phải vì nguồn lực ngân sách địa phương còn hạn chế. Do đó, cơ quan tài chính phải cân đối nguồn thu được mới nhập dự toán chính thức vào Tabmis (Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc), nhất là đối với vốn đầu tư từ nguồn thu tiền sử dụng đất, xổ số kiến thiết… trong khi hợp đồng và quyết định giao dự toán, kế hoạch đã được phê duyệt và triển khai từ trước đó. Việc này dẫn đến khi nhận được thông báo dự toán của cơ quan tài chính, đơn vị SDNS thường quên CKC do hợp đồng đã triển khai thực hiện từ trước hoặc đã quá hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản giao dự toán.
Để CKC thực sự là công cụ giúp công tác KSC mang lại hiệu quả cao, giúp các đơn vị SDNS có trách nhiệm trong quản lý, chi tiêu NSNN, các đơn vị KBNN kiến nghị, KBNN cần quy định mức CKC phải phản ánh nhu cầu thanh toán của công việc đã CKC bằng giá trị hợp đồng hay cấu phần hợp đồng thực hiện trong năm ngân sách. Trên cơ sở đó, đơn vị SDNS chuyển phần dự toán cần thiết để CKC mà không cần thủ tục đề nghị như hiện nay. KBNN sẽ thực hiện CKC trên các thông tin có trên hợp đồng khi giao dịch về chi NSNN lần đầu sau khi hợp đồng có hiệu lực.
Ngoài ra, các công chức KSC cũng đề xuất nên hạn chế chuyển số dư CKC sang năm sau, bởi khi thực hiện CKC là đã dành dự toán để thực hiện công việc được CKC, vì vậy, việc chuyển số dư CKC sang năm sau có thể là một bước lùi, cần được hạn chế. Việc chuyển nguồn nói chung và chuyển số dư CKC luôn phá vỡ kỷ luật tài khóa, làm tăng khó khăn trong tổ chức công việc và cân đối ngân sách trong niên độ kế tiếp. Do đó, việc chuyển số dư CKC sang năm sau cần sớm được chấm dứt.
Vân Hà
Dành cho bạn
Đọc thêm
Việt Nam - Singapore thúc đẩy hợp tác thực chất, chuẩn bị cho Kỳ họp CMM lần thứ 20
Kế hoạch hành động quốc gia về trao đổi thông tin theo yêu cầu vì mục đích thuế
Thành phố Huế: Nhận diện điểm nghẽn, đảm bảo tiến độ giải ngân đầu tư công
Thúc đẩy hợp tác phát triển thị trường vốn, tăng cường kết nối tài chính Việt Nam - Singapore
Bộ máy tinh gọn, hiệu quả, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội
Bộ Tài chính sơ kết 1 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp

