Kinh tế bán niên tại Miền Trung: Tăng trưởng tích cực

Hà Minh
(TBTCO) - Kinh tế bán niên một số tỉnh, thành phố Nam Trung Bộ như Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Khánh Hòa đạt mức tăng trưởng tích cực với tỷ lệ tăng GRDP từ 7,01% - 12,4%.
aa
Kinh tế bán niên tại Miền Trung: Tăng trưởng tích cực
Lọc dầu Dung Quất - một trong hai lĩnh vực đóng góp lớn vào tăng trưởng GRDP Quảng Ngãi 6 tháng đầu năm 2025.

Những con số "biết nói"

Trong số các địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nam Trung Bộ, Quảng Ngãi là địa phương dẫn đầu cả nước về tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) trong 6 tháng đầu năm 2025, với tỷ lệ đạt 11,51%.

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), nếu tính theo địa giới cũ, Quảng Ngãi đạt 12,4%, là mức tăng cao nhất trong vòng 5 năm qua. Hai ngành công nghiệp trụ cột là lọc hóa dầu và thép khẳng định vị thế dẫn dắt nền kinh tế Quảng Ngãi với mức tăng 19,32%. Trong đó, lọc hóa dầu đạt 3,84 triệu tấn, tăng hơn 34%. Sản phẩm thép đạt 3,38 triệu tấn, tăng gần 24%. Ngoài ra, sản xuất nông nghiệp 6 tháng đầu năm Quảng Ngãi giữ được nhịp tăng trưởng ở mức 3,53%.

Tại Đà Nẵng, kinh tế sau hợp nhất giữa Đà Nẵng và Quảng Nam đạt mức tăng trưởng 9,43%. Trong đó, Đà Nẵng (cũ) đạt mức tăng trưởng 11,7%, thể hiện vai trò dẫn dắt với tốc độ phục hồi và phát triển vượt trội trong các ngành dịch vụ, công nghiệp chế biến, chế tạo và du lịch; Quảng Nam tăng trưởng 6,63%, đóng góp vào sự ổn định và nền tảng sản xuất công nghiệp cũng như nông nghiệp của khu vực.

Với mức tăng 9,43% trong 6 tháng qua, tốc độ tăng GRDP của Đà Nẵng xếp thứ 8/34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau sáp nhập). Tỷ trọng GRDP cho thấy Đà Nẵng (cũ) giữ vai trò trung tâm kinh tế chủ lực với thế mạnh vượt trội ở các lĩnh vực gồm dịch vụ, du lịch, công nghệ thông tin và logistics. Trong khi đó, Quảng Nam (cũ) dù có tốc độ tăng trưởng thấp hơn trong kỳ nhưng vẫn giữ vai trò nền tảng về sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và cung ứng lao động. Sự chênh lệch về quy mô GRDP giữa hai địa phương phản ánh sự chuyển dịch trọng tâm kinh tế về phía đô thị trung tâm, nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh tính liên kết và bổ trợ vùng giữa hai địa phương.

Kinh tế 6 tháng đầu năm 2025 của cả Khánh Hòa (cũ) và Ninh Thuận (cũ) đều có những tín hiệu tích cực, tạo tiền đề vững chắc cho sự bứt phá trong tương lai. Tại Khánh Hòa (cũ), GRDP ước tăng 7,01%, thu ngân sách nhà nước đạt 14.751,9 tỷ đồng, tăng 54,9% so với cùng kỳ. Trong khi đó, tại Ninh Thuận, 6 tháng đầu năm, GRDP tăng 9,49% so với cùng kỳ, thu ngân sách nhà nước đạt 3.445 tỷ đồng, bằng 62,6% kế hoạch và tăng 42,9%.

Theo UBND tỉnh Gia Lai, trong nửa đầu năm 2025, GRDP đạt mức tăng trưởng 7,49%, tổng thu ngân sách nhà nước đạt 13.656 tỷ đồng, tăng 37,3% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, phần đóng góp từ địa bàn Bình Định chiếm 10.055 tỷ đồng, trong khi Gia Lai cũ đạt 3.601 tỷ đồng. Kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh đạt 1,686 tỷ USD, tăng 21,3%. Riêng Gia Lai cũ, kim ngạch xuất khẩu tăng gần 48%, chủ yếu nhờ cà phê, tạo động lực lớn cho ngành nông nghiệp của tỉnh…

Quyết tâm duy trì mục tiêu tăng trưởng

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi, bà Bùi Thị Quỳnh Vân cho biết, kết quả tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm 2025 đang đúng theo kịch bản tăng trưởng từ đầu năm đề ra, là nền tảng để Quảng Ngãi hoàn thành kế hoạch cả năm và tạo đà cho giai đoạn tiếp theo. Để duy trì mục tiêu tăng trưởng, Bí thư Quảng Ngãi cho hay, tỉnh sẽ tiếp tục ưu tiên cải thiện môi trường đầu tư, phát triển hạ tầng giao thông và đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm.

Đối với Đà Nẵng, theo PGS-TS. Bùi Quang Bình (Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng), tuy tốc độ tăng trưởng của tỉnh Quảng Nam (cũ) không như kỳ vọng, nhưng nhờ quy mô kinh tế của TP. Đà Nẵng (cũ) lớn hơn Quảng Nam nên đã kéo được tốc độ tăng trưởng 6 tháng đầu năm của TP. Đà Nẵng mới lên xấp xỉ 10%. “Thế mạnh công nghiệp của Quảng Nam (cũ) trong nửa đầu năm nay hơi trầm lắng, cần có các giải pháp đẩy mạnh động lực này để góp sức vào mục tiêu tăng trưởng chung của TP. Đà Nẵng trong năm 2025. Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng đạt 9,43% trong 6 tháng đầu năm, mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm nay của TP. Đà Nẵng là trong tầm tay”, PGS-TS. Bùi Quang Bình nhận định.

Tại tỉnh Khánh Hòa, 6 tháng đầu năm, GRDP dù chưa như kỳ vọng, song tỉnh vẫn kiên định mục tiêu tăng trưởng của năm ở mức từ 10% trở lên thông qua các mục tiêu: rà soát, đánh giá lại kết quả tăng trưởng 6 tháng đầu năm chung của cả 2 tỉnh Khánh Hòa (cũ), Ninh Thuận (cũ); đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và thu hút đầu tư ngoài ngân sách; tăng cường kích cầu du lịch, dịch vụ, tiêu dùng nội địa; triển khai KPI trong đánh giá công vụ, phát triển chính quyền số hướng đến nâng cao năng suất và hiệu quả điều hành.

Đánh giá về chỉ tiêu tăng trưởng tại Gia Lai, theo ông Hồ Quốc Dũng, Bí thư Tỉnh ủy, sau sáp nhập, tỉnh cũng gặp nhiều thách thức, hạn chế. Nổi cộm trong đó là hạ tầng giao thông, thủy lợi, y tế và giáo dục vẫn chưa đồng bộ. Sự khác biệt về cơ chế quản lý giữa hai địa phương cũ có thể ảnh hưởng đến hiệu quả điều hành của Gia Lai (mới).

Để khắc phục những bất cập này, tỉnh Gia Lai đã ban hành bộ quy tắc vận hành mới, lấy phương châm “Rõ người – Rõ việc – Rõ sản phẩm – Rõ tiến độ – Rõ trách nhiệm – Rõ thẩm quyền” làm kim chỉ nam; chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội được giao cụ thể đến từng xã, phường, đặc biệt ưu tiên các vùng khó khăn. Quan trọng nhất, theo Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai, là cần chuẩn hóa hệ thống dữ liệu, nhất là số liệu của hai tỉnh trước đây để làm cơ sở xây dựng kế hoạch chương trình kịch bản tăng trưởng kinh tế đạt 8%.

“Cần rà soát tất cả khó khăn vướng mắc, những dư địa để khơi thông. Cần đổi mới mạnh mẽ tư duy cách vận hành bộ máy từ tư duy quản lý sang chính quyền kiến tạo, phục vụ cho dân, tất cả những việc của dân và doanh nghiệp là phải giải quyết ngay từ cơ sở”. Ông Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh.

Hà Minh

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80