Lãi suất cho vay có thể giảm 1% - 1,5% trong năm 2014

Hoàng Yến
Qua cân đối đầu vào, chi phí, các tổ chức tín dụng (TCTD) có thể tiếp tục giảm lãi suất cho vay. Khả năng trong cả năm 2014, lãi suất cho vay của các TCTD có thể giảm 1 – 1,5%.
aa

LS

Ảnh T.L minh họa

Đây là thông tin Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Thị Hồng cho biết tại buổi họp báo ngày 29/8 của NHNN.

Tín dụng cả năm ước tăng 10%

Báo cáo về tình hình 8 tháng đầu năm, NHNN cho biết, đến ngày 21/8, tổng phương tiện thanh toán của hệ thống tăng 8,66%, huy động vốn tăng 8,12% (huy động bằng VND tăng 8,77%, huy động bằng ngoại tệ tăng 4,2% so với cuối năm 2013). Thanh khoản của các tổ chức tín dụng (TCTD) tiếp tục được đảm bảo và dư thừa, lãi suất thị trường liên ngân hàng ổn định ở mức thấp.

Từ đầu năm, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay bằng VNĐ đã giảm 0,5 – 1,5%/năm so với cuối năm 2013. Lãi suất của các khoản vay cũ được điều chỉnh giảm. Tính đến ngày 14/8, dư nợ cho vay bằng VNĐ có lãi suất trên 15% chiếm 4,45% tổng dư nợ cho vay VNĐ, dư nợ có lãi suất trên 13%/năm chiếm 12,45% tổng dư nợ cho vay VNĐ.

Đánh giá đây là những điểm sáng của thị trường tiền tệ, bà Nguyễn Thị Hồng cho biết hệ số sử dụng vốn, tỷ lệ tín dụng/huy động vốn hiện ở mức khoảng 87%, là mức hợp lý. Đến ngày 26/8, tín dụng tăng 4,5% so với cuối năm 2013. So với mức 6,4% của 8 tháng đầu năm 2013 thì tín dụng năm nay không thấp hơn nhiều. Ước tính tăng trưởng tín dụng cuối năm sẽ vào khoảng 10%.

Trả lời về khả năng giảm lãi suất tiếp tục, Phó Thống đốc cho biết hiện NHNN chỉ quy định trần lãi suất ngắn hạn 6%/năm, việc các ngân hàng giảm lãi suất là do họ tự cân đối chi phí, lợi nhuận để quyết định lãi suất. Theo đánh giá của NHNN, khả năng lạm phát năm nay khoảng trên dưới 5%, do vậy trần lãi suất 6% được coi là phù hợp, đảm bảo hài hoà lợi ích của các bên. Qua cân đối chi phí, lợi nhuận, các TCTD có thể tiếp tục giảm lãi suất cho vay. Khả năng trong năm 2014, lãi suất cho vay của các TCTD có thể giảm 1% – 1,5%.

Để đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, NHNN cho biết luôn sẵn sàng cung ứng vốn cho các chương trình của Chính phủ như gói 30.000 tỷ, tái canh cây cà phê, nuôi thuỷ sản… Đồng thời chỉ đạo các TCTD bám sát, kết nối DN, phối hợp với chính quyền địa phương để tháo gỡ khó khăn cho DN trong quan hệ tín dụng.

Kết nối lãnh đạo địa phương để tăng cho vay tín chấp

Trả lời câu hỏi của PV TBTCVN về mức chênh lệch khá lớn giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay hiện nay, Phó Thống đốc NHNN cho biết lãi suất hiện nay đã trở về mức lãi suất của năm 2005, 2006. Theo đánh giá, lãi suất cũng không phải là vấn đề trong quan hệ tín dụng.

Đồng thời, báo cáo sơ bộ của cơ quan thanh tra giám sát NHNN cho biết trong 6 tháng đầu năm, chênh lệch thu chi của các ngân hàng đã giảm so với cùng kỳ năm 2013. Cùng với việc giảm lãi suất cho vay cũ, các ngân hàng đã giảm lợi nhuận so với cùng kỳ.

Về một vấn đề đang được quan tâm là cho vay tín chấp, bà Nguyễn Thị Hồng cho biết cơ chế cho vay hiện hành đã có quy định về cho vay tín chấp, khi các TCTD đánh giá phương án trả nợ, năng lực kinh doanh, tài chính của DN tốt thì có thể cho vay tín chấp. Tuy nhiên, thực tế ở các nước khi cho vay tín chấp thì ngân hàng có thể lấy mọi thông tin về DN khá dễ dàng để đánh giá uy tín của DN. Còn ở Việt Nam, điều này khá khó khăn. Vì vậy, NHNN luôn hỗ trợ để tạo kết nối giữa DN, ngân hàng và lãnh đạo địa phương. Lãnh đạo địa phương nắm rõ DN, có sự tham gia này, ngân hàng sẽ tin tưởng DN hơn.

Hoàng Yến

Hoàng Yến

Đọc thêm

Nhiều đột phá trong cải cách hành chính và chuyển đổi số ngành Bảo hiểm xã hội

Nhiều đột phá trong cải cách hành chính và chuyển đổi số ngành Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bám sát tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, đồng thời triển khai Đề án 06 của Chính phủ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã có nhiều đột phá trong cải cách hành chính và chuyển đổi số, mang lại lợi ích lớn, thiết thực cho người dân và doanh nghiệp.
Phát triển đội ngũ tư vấn tài chính, tạo nền tảng cho Trung tâm Tài chính quốc tế

Phát triển đội ngũ tư vấn tài chính, tạo nền tảng cho Trung tâm Tài chính quốc tế

Để đồng hành cùng chiến lược quốc gia, đặc biệt trong nỗ lực xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế, theo TS. Lê Minh Nghĩa - Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA), vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp như VFCA không chỉ dừng lại ở một "tổ chức đoàn thể", mà còn là một "hệ sinh thái nền tảng" dẫn dắt thị trường tư vấn tài chính.
Chiến lược phủ phân khúc: Nền tảng giúp VPBank mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng

Chiến lược phủ phân khúc: Nền tảng giúp VPBank mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng

(TBTCO) - Trong bối cảnh thị trường tài chính ngày càng cạnh tranh và nhu cầu trở nên đa dạng, VPBank đã xây dựng hệ sinh thái sản phẩm và dịch vụ được “may đo” cho từng lớp khách hàng. Cách tiếp cận này giúp ngân hàng mở rộng quy mô và khai thác sâu hơn giá trị vòng đời khách hàng, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững, với mục tiêu dư nợ cấp tín dụng năm 2026 vượt mốc triệu tỷ đồng.
70% người Việt dự kiến tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu

70% người Việt dự kiến tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu

(TBTCO) - Mặc dù kỳ vọng có cuộc sống ý nghĩa sau khi về hưu đang ngày càng tăng cao, song phần lớn người Việt vẫn thiếu các kế hoạch tài chính sẵn sàng để chuẩn bị cho giai đoạn nghỉ hưu.
Khối ngân hàng tư nhân tăng tốc về trải nghiệm và hình ảnh

Khối ngân hàng tư nhân tăng tốc về trải nghiệm và hình ảnh

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa chính thức công bố Bảng xếp hạng "Sức khỏe thương hiệu ngân hàng Việt Nam 2025". Brand Beat Score (BBS) là báo cáo thường niên do Mibrand thực hiện và duy trì công bố từ năm 2017 đến nay, nhằm theo dõi diễn biến sức khỏe thương hiệu trong ngành ngân hàng.
Cục Thuế ký kết hợp tác cùng Sacombank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh kê khai, nộp thuế

Cục Thuế ký kết hợp tác cùng Sacombank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh kê khai, nộp thuế

(TBTCO) - Chiều 15/4/2026, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) ký kết hợp tác cùng Cục Thuế (Bộ Tài chính) và cơ quan thuế tại 14 tỉnh, thành phố nhằm triển khai các giải pháp hỗ trợ hộ kinh doanh trong quản lý doanh thu, xuất hóa đơn điện tử, kê khai và nộp thuế.
Đại hội đồng cổ đông OCB: Hướng mốc lãi 7.000 tỷ đồng, đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi tăng 80% quý I/2026

Đại hội đồng cổ đông OCB: Hướng mốc lãi 7.000 tỷ đồng, đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi tăng 80% quý I/2026

(TBTCO) - OCB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 6.960 tỷ đồng, tăng 39%, trong bối cảnh tín dụng bị kiểm soát và kinh tế còn nhiều biến động. Ngân hàng tiếp tục coi tín dụng là trụ cột, tiếp tục mở rộng các lĩnh vực mới; đồng thời, đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi, tăng trên 80% ngay quý I/2026. Nhiều giải pháp được triển khai, đưa cổ phiếu OCB định giá về mức hợp lý, phản ánh đúng giá trị.
Lãnh đạo PJICO lý giải kế hoạch "đi chậm mà chắc", dành 70% lợi nhuận trả cổ tức tiền mặt

Lãnh đạo PJICO lý giải kế hoạch "đi chậm mà chắc", dành 70% lợi nhuận trả cổ tức tiền mặt

(TBTCO) - PJICO đặt kế hoạch năm 2026 với doanh thu phí bảo hiểm 5.238 tỷ đồng, tăng 8% và phấn đấu 10%, lợi nhuận trước thuế 324,5 tỷ đồng, tăng 6% và hướng tới 8%; chia cổ tức bằng tiền mặt 12%. Trước kỳ vọng tăng trưởng hai con số từ cổ đông, lãnh đạo PJICO nhấn mạnh, chiến lược của PJICO là phát triển an toàn, bền vững và hiệu quả, không đặt trọng tâm vào tăng trưởng về doanh thu, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và còn nhiều rủi ro.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,700 ▼70K 17,050 ▼70K
Kim TT/AVPL 16,700 ▼70K 17,050 ▼70K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,700 ▼70K 17,000 ▼120K
Nguyên Liệu 99.99 15,600 ▲100K 15,800 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 15,550 ▲100K 15,750 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 ▲40K 16,800 ▲40K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 ▲40K 16,750 ▲40K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 ▲40K 16,730 ▲40K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,000 ▼700K 170,000 ▼700K
Hà Nội - PNJ 167,000 ▼700K 170,000 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 167,000 ▼700K 170,000 ▼700K
Miền Tây - PNJ 167,000 ▼700K 170,000 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 167,000 ▼700K 170,000 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 167,000 ▼700K 170,000 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,700 ▼70K 17,050 ▼70K
Miếng SJC Nghệ An 16,700 ▼70K 17,050 ▼70K
Miếng SJC Thái Bình 16,700 ▼70K 17,050 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,650 ▼70K 17,000 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,650 ▼70K 17,000 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,650 ▼70K 17,000 ▼70K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,190 ▼70K 16,890 ▼70K
Trang sức 99.99 16,200 ▼70K 16,900 ▼70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 167 ▼1510K 17,052 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 167 ▼1510K 17,053 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,665 ▼7K 170 ▼1537K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,665 ▼7K 1,701 ▼7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,645 ▼7K 1,685 ▼7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 ▼693K 166,832 ▼693K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 ▼525K 126,538 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 ▼477K 114,741 ▼477K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 ▼427K 102,945 ▼427K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 ▼408K 98,395 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 ▼291K 70,422 ▼291K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 167 ▼1510K 1,705 ▼7K
Cập nhật: 17/04/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18321 18597 19170
CAD 18684 18962 19575
CHF 32945 33330 33975
CNY 0 3800 3870
EUR 30371 30645 31670
GBP 34786 35179 36111
HKD 0 3233 3435
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15182 15764
SGD 20140 20423 20949
THB 736 800 853
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,127 26,127 26,357
USD(1-2-5) 25,082 - -
USD(10-20) 25,082 - -
EUR 30,568 30,592 31,866
JPY 161.15 161.44 170.21
GBP 35,048 35,143 36,156
AUD 18,558 18,625 19,224
CAD 18,910 18,971 19,559
CHF 33,284 33,388 34,179
SGD 20,311 20,374 21,048
CNY - 3,796 3,919
HKD 3,306 3,316 3,435
KRW 16.45 17.16 18.56
THB 786.54 796.25 847.07
NZD 15,202 15,343 15,703
SEK - 2,823 2,906
DKK - 4,090 4,210
NOK - 2,771 2,853
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,236.22 - 6,999.65
TWD 754.77 - 909.08
SAR - 6,916.66 7,247.49
KWD - 83,908 88,762
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 30,437 30,559 31,744
GBP 34,963 35,103 36,113
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 33,019 33,152 34,092
JPY 161.34 161.99 169.27
AUD 18,502 18,576 19,170
SGD 2,032,200 20,404 20,988
THB 802 805 841
CAD 18,866 18,942 19,516
NZD 15,247 15,780
KRW 17.06 18.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26357
AUD 18498 18598 19524
CAD 18863 18963 19978
CHF 33200 33230 34817
CNY 3799.9 3824.9 3960.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30559 30589 32311
GBP 35088 35138 36890
HKD 0 3355 0
JPY 161.75 162.25 172.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15288 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20294 20424 21155
THB 0 766.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16800000 16800000 17250000
SBJ 15000000 15000000 17250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,150 26,200 26,357
USD20 26,150 26,200 26,357
USD1 23,847 26,200 26,357
AUD 18,548 18,648 19,771
EUR 30,692 30,692 32,127
CAD 18,806 18,906 20,230
SGD 20,366 20,516 21,097
JPY 162.15 163.65 168.35
GBP 34,971 35,321 36,415
XAU 16,848,000 0 17,202,000
CNY 0 3,708 0
THB 0 802 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/04/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80