Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu ngân hàng:

Khối ngân hàng tư nhân tăng tốc về trải nghiệm và hình ảnh

Tú Anh
(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa chính thức công bố Bảng xếp hạng "Sức khỏe thương hiệu ngân hàng Việt Nam 2025". Brand Beat Score (BBS) là báo cáo thường niên do Mibrand thực hiện và duy trì công bố từ năm 2017 đến nay, nhằm theo dõi diễn biến sức khỏe thương hiệu trong ngành ngân hàng.
aa

Vietcombank dẫn đầu bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu 4 năm liên tiếp

Đối tượng khảo sát là người tiêu dùng từ 18 tuổi trở lên, được thực hiện trong thời gian từ ngày 10/11 đến 15/12/2025, với mẫu phân bố đều tại ba miền Bắc, Trung, Nam, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như: Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; dữ liệu được đối chiếu với giai đoạn từ ngày 10/11 đến 15/12/2024, với bảng hỏi gồm 50 câu.

Được Mibrand công bố thường niên từ năm 2017 đến nay, báo cáo "Sức khỏe thương hiệu ngân hàng Việt Nam" là một phần trong cam kết đồng hành lâu dài với ngành ngân hàng, nhằm mang đến cho thị trường dữ liệu tin cậy và góc nhìn đa chiều về vị thế thương hiệu trong tâm trí người tiêu dùng.

Báo cáo được xây dựng dựa trên Brand Beat Score (BBS), công cụ đo lường sức khỏe thương hiệu độc quyền do Mibrand phát triển, đồng thời là một trong số ít giải pháp trên thị trường giúp làm rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa sức khỏe thương hiệu và giá trị thương hiệu.

Khối ngân hàng tư nhân tăng tốc về trải nghiệm và hình ảnh
Bảng xếp hạng các ngân hàng có sức khoẻ thương hiệu tốt nhất năm 2025 - Nguồn: Mibrand.

Dữ liệu năm 2025 cho thấy không có nhiều biến động về điểm số giữa các ngân hàng. Tuy nhiên, đáng chú ý là khoảng cách giữa nhóm dẫn đầu và các thương hiệu bám đuổi đang được rút ngắn đáng kể, cho thấy áp lực cạnh tranh trong việc giữ vững sức khỏe thương hiệu ngày càng lớn.

Vietcombank tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu trong Top 10 ngân hàng có sức khoẻ thương hiệu mạnh nhất Việt Nam, với BBS đạt 35 điểm, cho thấy nền tảng thương hiệu vững chắc và mức độ tin cậy cao.

MB và Techcombank có sự hoán đổi thứ hạng trong nhóm đầu: từ vị trí thứ 4 năm 2024, MB vươn lên thứ 2 trong năm 2025, trong khi Techcombank từ vị trí thứ 2 lùi xuống thứ 4.

Sự dịch chuyển này cho thấy mức độ cạnh tranh ngày càng quyết liệt giữa các ngân hàng top đầu, đồng thời phản ánh hiệu quả từ nỗ lực đẩy mạnh số hóa và cải thiện trải nghiệm khách hàng của MB.

Cùng với đó, Agribank cũng ghi dấu ấn khi trở lại Top 10 sau hai năm vắng bóng, cho thấy nỗ lực tái củng cố hình ảnh và vị thế thương hiệu trong bối cảnh ngành ngân hàng chuyển động mạnh theo xu hướng số hoá.

VIB và TPBank thăng hạng ấn tượng trong nhiều chỉ số

Năm 2025 chứng kiến những thay đổi mạnh mẽ ở các chỉ số thành phần, phản ánh hiệu quả từ các hoạt động thực tế của ngân hàng.

Khối ngân hàng tư nhân tăng tốc về trải nghiệm và hình ảnh
Top 10 thương hiệu đứng đầu về chỉ số liên tưởng & hình ảnh thương hiệu - Nguồn: Mibrand.

Chỉ số Liên tưởng & Hình ảnh thương hiệu (Brand Perception & Image Index) năm 2025 ghi nhận nhiều biến động mạnh, phản ánh rõ xu hướng các ngân hàng ngày càng đầu tư vào trải nghiệm thương hiệu và kết nối cảm xúc với khách hàng.

Từ vị trí ngoài Top 10 năm 2024, VIB đã bứt phá mạnh mẽ trong năm 2025 để vươn lên dẫn đầu toàn ngành về Liên tưởng & Hình ảnh thương hiệu (Brand Perception & Image Index), tăng 10 bậc (tăng 32 điểm). Động lực tăng trưởng đến từ chiến lược kết hợp tài chính với giải trí, nổi bật là vai trò Nhà tài trợ Kim cương cho chương trình Anh Trai "Say Hi", giúp thương hiệu phủ sóng rộng rãi. Đồng thời, các hoạt động tích hợp hệ sinh thái số như ưu đãi vé concert cho khách hàng mở tài khoản Digi trên ứng dụng MyVIB đã góp phần lan tỏa thông điệp “Dẫn đầu xu thế thẻ”, củng cố hình ảnh ngân hàng hiện đại, sáng tạo và hướng đến giới trẻ.

VPBank ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, từ vị trí thứ 10 (2024) lên vị trí thứ 4 (2025), tăng 6 bậc (tăng 17 điểm). Bước ngoặt đến từ việc VPBank đầu tư mạnh mẽ vào mô hình Chi nhánh Flagship - không gian trải nghiệm tài chính tích hợp công nghệ và nghệ thuật, lần đầu tiên ra mắt tại Việt Nam. Gắn với thông điệp “Vì một Việt Nam Thịnh vượng”, VPBank định vị hình ảnh khác biệt, hiện đại và đẳng cấp trên thị trường.

Cũng theo Mibrand, Chỉ số Yêu thích thương hiệu (Brand Love) năm 2025 ghi nhận sự phân hóa rõ nét, khi các ngân hàng không chỉ cạnh tranh về nhận diện mà còn phải xây dựng kết nối cảm xúc và trải nghiệm khác biệt để chinh phục khách hàng.

TPBank ghi nhận sự tăng trưởng vượt trội trong thứ hạng khi vươn lên Top 5, tăng 9 bậc trong Chỉ số Yêu thích thương hiệu (Brand Love), điều này đến từ chiến lược nhất quán trong việc đánh mạnh vào “lifestyle banking” và phân khúc khách hàng cao cấp./.

Ông Lại Tiến Mạnh - đại diện Mibrand Việt Nam nhận định, nếu nhóm quốc doanh như: Vietcombank, BIDV chiếm ưu thế tuyệt đối về quy mô, khối tư nhân lại đang ghi điểm bằng chiều sâu dịch vụ. Khảo sát ghi nhận những nỗ lực bứt phá đáng chú ý ở nhóm này, tiêu biểu như OCB khi giữ vững Top 8 khối tư nhân và tăng 5 bậc yêu thích thương hiệu nhờ việc đẩy mạnh khai thác yếu tố con người tại các điểm chạm dịch vụ. Dù vậy, yếu tố sống còn định đoạt niềm tin khách hàng hiện nay, với mọi ngân hàng, vẫn là năng lực bảo mật và sự an toàn trong giao dịch./.
Tú Anh

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giao dịch trên mốc 4.000 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với vàng miếng có nơi tăng tới 2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026 thông qua các nội dung về quản trị và nhân sự nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030.
Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, phối hợp xử lý nghiêm các doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời triển khai nhiều giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

(TBTCO) - Từ ngày 10/9/2026, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị xử lý nghiêm theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, hành vi trốn đóng có thể bị phạt đến 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và lên đến 150 triệu đồng với tổ chức vi phạm.
Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

(TBTCO) - Hưởng ứng chủ trương chuyển đổi số quốc gia, LPBank đang phát triển LPBank Healthcare - hệ sinh thái tài chính số chuyên biệt cho lĩnh vực y tế, đồng hành cùng các cơ sở khám chữa bệnh xây dựng bệnh viện thông minh, tối ưu vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.
Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 75 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt lao dốc, nhiều thương hiệu điều chỉnh giảm tới 7 triệu đồng/lượng chỉ sau một phiên giao dịch.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 141,200
Hà Nội - PNJ 136,200 141,200
Đà Nẵng - PNJ 136,200 141,200
Miền Tây - PNJ 136,200 141,200
Tây Nguyên - PNJ 136,200 141,200
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 141,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,150
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,150
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,150
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,340 14,040
Trang sức 99.99 13,350 14,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 1,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 139
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 137,624
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 10,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 94,679
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 84,948
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 81,195
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 58,119
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cập nhật: 27/07/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17839 18112 18697
CAD 18141 18417 19040
CHF 31530 31910 32550
CNY 0 3846 3939
EUR 29293 29513 30596
GBP 34260 34651 35605
HKD 0 3225 3429
JPY 153 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14925 15515
SGD 19849 20131 20717
THB 696 759 813
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26138 26508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26520
AUD 18051 18151 19074
CAD 18341 18441 19457
CHF 31837 31867 33445
CNY 3827.4 3852.4 3987.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29526 29556 31282
GBP 34554 34604 36362
HKD 0 3355 0
JPY 157.3 157.8 168.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20010 20140 20864
THB 0 726.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13550000 13550000 14050000
SBJ 12600000 12600000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,180 26,510
USD20 26,147 26,180 26,510
USD1 24,019 26,180 26,510
AUD 18,028 18,128 19,309
EUR 29,245 29,345 31,096
CAD 18,230 18,330 19,710
SGD 20,020 20,170 20,804
JPY 157.09 158.59 164.88
GBP 34,371 34,521 35,685
XAU 13,548,000 0 14,052,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/07/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80