Lãi suất tiền gửi khó giảm tương ứng với lãi suất cho vay

D.T

D.T

Để cân đối với lãi suất cho vay giảm, các NHTM cũng phải điều chỉnh giảm lãi suất huy động. Tuy nhiên, sự sụt giảm thu nhập của doanh nghiệp và cá nhân do dịch bệnh cũng khiến huy động tiền gửi kém thuận lợi. Lãi suất tiền gửi vì thế khó có thể giảm tương ứng với lãi suất cho vay.
aa

Đây là nhận định được Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư, Công ty CP Chứng khoán SSI (SSI Research) trong báo cáo thị trường tiền tệ tuần qua vừa phát hành.

Lãi suất liên ngân hàng tăng nhưng giảm dần ở thị trường 1

Báo cáo của SSI Research cho thấy, tuần qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chỉ thực hiện 1 giao dịch mới là 1,05 tỷ đồng mua kỳ hạn 14 ngày trong khi có một lượng lớn OMO và tín phiếu đến hạn. Tính chung lại, NHNN đã bơm ròng 10.345 tỷ đồng thông qua thị trường mở. Số dư OMO giảm về gần 0, số dư tín phiếu là 132 nghìn tỷ đồng.

Thanh khoản bớt dồi dào khiến lãi suất trên liên ngân hàng tăng lên trong tuần qua, chốt tuần ở mức 2,19%/năm (+42bps) với kỳ hạn qua đêm và 2,46%/năm (+44bps) với kỳ hạn tuần. Các lô tín phiếu phát hành trong 2 tháng đầu năm đang bắt đầu đáo hạn đồng nghĩa với một lượng tiền lớn sẽ được bơm ra, lãi suất trên liên ngân hàng sẽ giảm xuống trong thời gian tới.

lãi suất

Theo NHNN, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã hạ lãi suất từ 0,5% - 2,5%/năm cho 948,4 nghìn tỷ đồng dư nợ hiện hữu và 511,2 nghìn tỷ đồng nợ mới. Dù lãi suất cho vay giảm mạnh nhưng tín dụng nửa đầu tháng 4/2020 chỉ tăng 0,8% so với cuối năm 2019 trong khi đến cuối tháng 3 đã tăng 1,3%, tức là dư nợ tại giữa tháng 4 thấp hơn tại cuối tháng 3 khoảng 41 nghìn tỷ đồng. Thời điểm hiện tại, lãi suất không còn là yếu tố chi phối, sức hấp thụ vốn của nền kinh tế suy giảm và sự thận trọng của các NHTM khiến cho tăng trưởng tín dụng cả năm 2020 có thể thấp hơn dự kiến.

SSI Research cho biết, để cân đối với lãi suất cho vay giảm, các NHTM cũng phải điều chỉnh giảm lãi suất huy động. Tuy nhiên, sư sụt giảm thu nhập của doanh nghiệp và cá nhân do dịch bệnh cũng khiến huy động tiền gửi kém thuận lợi. Lãi suất tiền gửi vì thế khó có thể giảm tương ứng với lãi suất cho vay. Hiện tại, lãi suất tiền gửi ở mức 4,1 – 4,75%/năm với các kỳ hạn từ 1 tới dưới 6 tháng, 5,1 - 7%/năm các kỳ hạn 6 - dưới 12 tháng, 6,2 – 7,4%/năm ở các kỳ hạn 12 – 13 tháng.

Tỷ giá USD/VND trên thị trường ngân hàng và tự do trái chiều

Tình hình dịch bệnh đã có những tiến triển tích cực tại Mỹ và Châu Âu khi số ca nhiễm mới tăng chậm dần, các biện pháp nới lỏng cách ly đang dần được thực hiện. Tuy nhiên, diễn biến giá dầu lại trở thành tâm điểm đè nặng lên tâm lý giới đầu tư toàn cầu trong tuần qua. Ngày 20/4/2020, giá dầu thô WTI giao tháng 5 rơi xuống mức -37,6 USD/thùng. Đại dịch Covid-19 đã khiến nhu cầu dầu toàn cầu sụt giảm mạnh, cùng lúc Nga và Saudi Arabia lại khơi mào cuộc chiến giá dầu đã khiến lượng cung dầu vượt quá năng lực tích trữ dù OPEC+ đã cắt giảm 10% sản lượng, đẩy giá dầu xuống vùng thấp lịch sử. Các công ty năng lượng của Mỹ đang đứng trên bờ vực phá sản hàng loạt.

Chính phủ Mỹ đang xây dựng kế hoạch để hỗ trợ các công ty năng lượng, Quốc hội cũng đã thông qua gói cứu trợ mới gần 500 tỷ USD cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nâng tổng mức chi tiêu để ứng phó với khủng hoảng của Mỹ lên mức chưa từng thấy, gần 3.000 tỷ USD. Tâm lý thị trường có cải thiện đôi chút sau thông tin này nhưng tâm lý thận trọng vẫn đóng vai trò chủ đạo, nhu cầu nắm giữ USD để đảm bảo thanh khoản vẫn rất cao.
tỷ gig
Tỷ giá dự báo sẽ có nhiều biến động trong giai đoạn này. Ảnh: DM.

Báo cáo của SSI Research cho biết, trong tuần qua, chỉ số Dollar-Index (DXY) duy trì ở 100,4 điểm, EUR và GBP mất giá lần lượt 0,5% và 1,06% do chưa có giải pháp kích thích nền kinh tế rõ ràng. Tính từ đầu năm đến nay, chỉ có đồng tiền trú ẩn là JPY lên giá (+1%) so với USD, hầu hết các đồng tiền khác đều mất giá so với USD: RUB (Nga) -20,3%; INR (Ấn Độ) -14,6%; CAD (Canada) -8,57%; THB (Thái Lan) -8,27%; KRW (Hàn Quốc) -6,9%... Đồng CNY của Trung Quốc mất giá thêm 0,12% trong tuần qua và mất giá tổng cộng 1,7% kể từ đầu năm đến nay.

Tỷ giá giao dịch USD/VND tăng 30 đồng/USD trên ngân hàng, lên mức 23.370/23.580 đồng (mua vào/bán ra) nhưng giảm 10 đồng/USD chiều mua vào và giảm 70 đồng/USD chiều bán ra trên tự do, về mức 23.520/23.560. Tỷ giá trung tâm tăng thêm 30 đồng/USD lên mức cao nhất từ trước đến nay là 23.272 đồng/USD.

Như vậy, tính từ đầu năm đến nay, VND đã giảm khoảng 1,3% giá trị so với USD. Theo Tổng cục Hải quan, Việt Nam đã nhập siêu khoảng 1,3 tỷ USD trong nửa đầu tháng 4. So với 2019, nguồn cung ngoại tệ năm nay sẽ kém thuận lợi hơn khá nhiều, đặc biệt là nguồn từ kiều hối nên tỷ giá USD/VND vẫn chịu áp lực tăng. Mặc dù vậy, “chênh lệch lãi suất VND-USD trên liên ngân hàng đang ở mức cao (2%) và cung cầu ngoại tệ trong nước vẫn ổn định nên dự kiến tỷ giá chưa có nhiều biến động trong giai đoạn này” – SSI Research cho hay./.

D.T

D.T

Đọc thêm

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 145,300
Hà Nội - PNJ 142,300 145,300
Đà Nẵng - PNJ 142,300 145,300
Miền Tây - PNJ 142,300 145,300
Tây Nguyên - PNJ 142,300 145,300
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 145,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 14,530
Miếng SJC Nghệ An 14,230 14,530
Miếng SJC Thái Bình 14,230 14,530
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 14,580
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 14,580
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 14,580
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 14,490
Trang sức 99.99 13,900 14,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 14,532
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 14,533
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 1,448
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 1,449
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 1,438
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 142,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 108,011
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 97,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 87,877
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 83,994
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 60,121
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Cập nhật: 16/09/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17977 18251 18827
CAD 18114 18389 19004
CHF 31064 31442 32083
CNY 0 3828 3924
EUR 29344 29564 30639
GBP 34200 34590 35524
HKD 0 3181 3383
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14614 15202
SGD 19864 20146 20714
THB 697 760 813
USD (1,2) 25714 0 0
USD (5,10,20) 25753 0 0
USD (50,100) 25781 25795 26160
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,403 29,427 30,824
JPY 162.81 163.1 172.97
GBP 34,396 34,489 35,682
AUD 18,178 18,244 18,935
CAD 18,305 18,364 19,044
CHF 31,346 31,443 32,365
SGD 19,993 20,055 20,840
CNY - 3,798 3,932
HKD 3,246 3,256 3,392
KRW 17.56 18.31 19.91
THB 745.45 754.66 808.04
NZD 14,610 14,746 15,183
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,944 4,083
NOK - 2,733 2,830
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,938.74 - 6,711.39
TWD 738.08 - 894.22
SAR - 6,800.64 7,163.6
KWD - 82,364 87,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,398 29,516 30,712
GBP 34,354 34,492 35,521
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,158 31,283 32,218
JPY 163.09 163.74 171.72
AUD 18,168 18,241 18,834
SGD 20,038 20,118 20,709
THB 760 763 800
CAD 18,306 18,380 18,970
NZD 14,678 15,221
KRW 18.12 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25775 25775 26155
AUD 18150 18250 19181
CAD 18282 18382 19396
CHF 31275 31305 32887
CNY 3807.5 3832.5 3967.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29490 29520 31245
GBP 34463 34513 36271
HKD 0 3305 0
JPY 163.56 164.06 174.58
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14708 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20000 20130 20853
THB 0 724.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,660 25,780 26,155
USD20 25,630 25,780 26,155
USD1 24,345 25,780 26,907
AUD 18,195 18,295 19,417
EUR 29,278 29,378 31,056
CAD 18,225 18,325 19,645
SGD 20,077 20,227 20,794
JPY 164.01 165.51 171.15
GBP 34,349 34,499 35,584
XAU 14,228,000 0 14,532,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 760 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/09/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30