Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/12:

Lãi suất tiếp tục là mối quan tâm cả ở thị trường trong và ngoài nước

Chí Tín
(TBTCO) - Lãi suất vẫn là mối quan tâm ở cả thị trường tài chính trong và ngoài nước trong tuần qua. Trong nước, động thái giảm lãi suất đã có tín hiệu làm ấm dần bất động sản. Trong khi ở thị trường quốc tế, cuộc họp cuối cùng trong năm của FED đã chốt lại việc lãi suất đã đạt đỉnh, mở ra kỳ vọng chuyển sang chu kỳ giảm từ năm 2024.
aa

Lãi suất hỗ trợ thanh khoản cho bất động sản

Lấp ló tín hiệu tan băng ở thị trường bất động sản trong thời gian gần đây được giới đầu tư đánh giá là những biểu hiện tích cực nhờ xu hướng lãi suất đang giảm dần thời gian qua.

Một số đợt mở bán gần đây cho thấy, khoảng 80% số căn hộ của Khang Điền House (KDH) mở bán tại dự án phân khúc tầm trung “Privia” đã được mua ngay trong sự kiện mở bán. Ngoài ra, 80% số căn hộ của dự án Glory Heights của Vinhomes (VHM) đã được bán và 80% dự án Akari của Nam Long (NLG) cũng được bán nhanh chóng.

Đánh giá về những động thái này, ông Michael Kokalari - Giám đốc phòng Phân tích kinh tế vĩ mô và nghiên cứu thị trường thuộc VinaCapital cho biết, sự tăng trưởng nhẹ trong mức tín dụng dành cho các chủ đầu tư bất động sản gần đây sẽ giúp họ tăng cường hoạt động phát triển. Số liệu tăng trưởng tín dụng mới nhất của Việt Nam cho thấy, nhu cầu vay mua nhà còn yếu, nhưng điều này có thể thay đổi khi lãi suất thế chấp giảm trong những tháng gần đây.

Lãi suất tiếp tục là mối quan tâm cả ở thị trường trong và ngoài nước
USD đang có xu hướng yếu đi. Ảnh: T.L

Theo khảo sát của VinaCapital, lãi suất vay thế chấp đạt đỉnh lên đến 16% tại một số ngân hàng vào đầu năm 2023, nhưng sau đó lại giảm đáng kể. Lãi suất thế chấp hiện tương đương với mức trước đợt tăng mạnh lãi suất của Chính phủ vào năm ngoái. Dù vậy, tâm lý nhà đầu tư và giao dịch trên thị trường sẽ chưa hồi phục hoàn toàn cho tới giữa năm 2024.

Kỳ vọng lãi suất tại Mỹ chuyển hướng

Quyết định của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) mới đây sau cuộc họp tháng 12/2023 về việc giữ nguyên lãi suất không quá bất ngờ với thị trường. Tuy nhiên, đây được coi là một thông điệp quan trọng thể hiện chuỗi tăng lãi suất kéo dài 2 năm qua đã kết thúc.

Theo đó, nếu thị trường tài chính không có biến cố gì quá bất ngờ, chu kỳ giảm lãi suất của FED có thể sẽ diễn ra từ khoảng giữa năm 2024. Dựa vào diễn biến trong cuộc họp và bài phát biểu trong họp báo của Chủ tịch FED Jerome Powell, thị trường kỳ vọng rằng FED sẽ giảm lãi suất điều hành 1,5 điểm phần trăm ngay vào năm sau.

Lạm phát Mỹ hạ nhiệt khiến FED dừng tăng lãi suất

Lạm phát tại Mỹ hạ nhiệt là yếu tố quan trọng cho phép FOMC (cơ quan hoạch định chính sách của FED) giữ nguyên lãi suất điều hành ở vùng 5,25 - 5,5% trong cuộc họp chính sách cuối cùng của năm. Các quan chức cũng dự báo cắt giảm lãi suất 3 lần vào năm sau. Con số này thấp hơn những gì thị trường dự đoán, nhưng cao hơn tuyên bố trước đó của ngân hàng trung ương Mỹ.

Về tác động của thị trường tài chính nếu chu kỳ giảm lãi suất diễn ra thì nhóm tài sản đầu tiên có thể chịu ảnh hưởng là cổ phiếu, cụ thể nếu lãi suất giảm trong năm tới, giá cổ phiếu có thể tăng do chi phí cơ hội dành cho việc nắm giữ cổ phiếu sẽ giảm đi.

Về tác động đối với tỷ giá, lãi suất đồng USD nếu giảm thì việc nắm giữ đồng tiền này sẽ ít lợi nhuận hơn và điều này có thể dẫn đến xu hướng các đồng tiền khác đều tăng so với đồng USD, đặc biệt là ở châu Á. Đồng Yên Nhật vượt lên mức cao nhất kể từ tháng 8 và tiếp tục tăng, các đồng Won của Hàn Quốc và Ringget của Malaysia cũng đang có xu hướng tăng.

Tỷ giá rơi mạnh cuối tuần

Tỷ giá trung tâm và tại ngân hàng thương mại có diễn biến tăng nhẹ trong các ngày trong tuần, nhưng sau đó điều chỉnh giảm mạnh ngay trong ngày thứ sáu cuối tuần.

Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố sáng thứ hai đầu tuần ở mức 23.932 đồng/USD, sau đó tăng lên mức 23.954 đồng/USD vào thứ tư. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh giảm khá mạnh tỷ giá trung tâm vào hôm thứ sáu xuống chỉ còn 23.882 đồng/USD, theo đó tỷ giá trung tâm hôm cuối tuần đã giảm 50 đồng mỗi USD so với hôm thứ hai.

Trong khi đó, tỷ giá USD do Vietcombank công bố cũng có diễn biến tương tự, mở đầu tuần mới với mức giá bán ra niêm yết tại ngân hàng này là 24.400 đồng/USD, sau một số phiên tăng thì lại quay đầu giảm hôm thứ sáu về mức chỉ còn 24.390 đồng/USD.

Diễn biến thị trường tiền tệ quốc tế cho thấy, chỉ số DXY đo lường sức mạnh đồng USD tiếp tục yếu đi, giảm về mức chỉ còn hơn 102 điểm. Diễn biến này do những dự báo xu hướng lãi suất giảm tại Mỹ trong năm 2024 có thể làm giảm giá trị đồng USD so với các loại tiền tệ khác.

Lãi suất tiếp tục là mối quan tâm cả ở thị trường trong và ngoài nước
USD giảm giá khiến vàng trở nên đắt hơn so với đồng tiền này. Ảnh: T.L

Giá vàng giảm giữa tuần nhưng tăng vào cuối tuần

Giá vàng có diễn biến giảm vào một số thời điểm giữa tuần, tuy nhiên, kim loại quý này lại quay đầu tăng mạnh trở lại vào cuối tuần.

Mở đầu tuần hôm thứ hai 11/12, giá vàng SJC 9999 ghi nhận ở mức 72,8 triệu đồng/lượng mua vào và 73,82 triệu đồng/lượng bán ra. Sau đó, kim loại quý này điều chỉnh giảm về mức chỉ còn 72,5 triệu đồng/lượng mua vào và 73,52 triệu đồng/lượng bán ra.

Mặc dù vậy, bầu không khí của vàng lại tăng nhiệt vào cuối tuần và theo đó, giá vàng SJC 9999 hôm thứ sáu cuối tuẩn đã bật tăng lên mức 73,3 triệu đồng/lượng mua vào và 74,32 triệu đồng/lượng bán ra. Mặt bằng giá hôm cuối tuần theo đó đã tăng cao thêm khoảng hơn 500 nghìn đồng mỗi lượng so với hôm đầu tuần.

Diễn biến giá vàng trong nước khá đồng nhịp với giá vàng thế giới trong tuần qua. Hôm thứ hai đầu tuần, giá vàng thế giới giao dịch ở mức 2.003,1 USD/oz, sau đó có lúc giảm về mốc chỉ khoảng 1.987 USD/ounce. Mặc dù vậy, giá vàng sau đó lại bật tăng lên 2.035,8 USD/ounce.

Các kỳ vọng mới về lãi suất vẫn được cho là yếu tố tác động đến giá vàng, bởi khi lãi suất giảm thì các nhà đầu tư sẽ có thể tìm đến việc nắm giữ vàng nhiều hơn. Hơn nữa, giá USD giảm cũng khiến cho vàng trở nên có giá hơn khi so sánh với đồng tiền này vì vàng thường được niêm yết giá theo đồng USD.

Thời điểm hạ lãi suất của FED còn chưa chắc chắn

Ngay từ trước cuộc họp chính sách tháng này, đa số nhà đầu tư tin rằng FED đã hoàn thành chu kỳ tăng lãi suất. Cơ quan này nâng lãi suất tổng cộng 11 lần kể từ năm ngoái, đưa lãi suất điều hành lên mức cao nhất hơn 22 năm. Dù vậy, giới đầu tư vẫn chưa rõ FED sẽ nới lỏng chính sách tiền tệ chính xác là tháng nào của năm sau.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 32 USD/ounce, xuống 4.140,8 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng bán ra đồng loạt giảm 200.000 đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn tăng tại DOJI, Bảo Tín Minh Châu nhưng giảm tại PNJ và SJC.
Giá vàng hôm nay ngày 2/10: Vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 2/10: Vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng trong nước ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu. Giá bán vàng miếng cao nhất ở mức 144,3 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn dao động từ 139,8 - 144,3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/9: Vàng thế giới tăng hơn 40 USD, vàng trong nước trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 30/9: Vàng thế giới tăng hơn 40 USD, vàng trong nước trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 40 USD/ounce, lên mức 4.182 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các doanh nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 29/9: Vàng thế giới và trong nước giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 29/9: Vàng thế giới và trong nước giảm mạnh

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm 154 USD/ounce, xuống còn 4.123 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng giảm tới 2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 28/9: Vàng miếng đứng giá, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 28/9: Vàng miếng đứng giá, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng tại các doanh nghiệp lớn giữ nguyên ở mức 141,4 - 144,4 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn Bảo Tín Minh Châu giảm 200.000 đồng/lượng ở cả hai chiều.
Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,300 143,300
Hà Nội - PNJ 140,300 143,300
Đà Nẵng - PNJ 140,300 143,300
Miền Tây - PNJ 140,300 143,300
Tây Nguyên - PNJ 140,300 143,300
Đông Nam Bộ - PNJ 140,300 143,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
NL 99.99 13,300
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200
Trang sức 99.9 13,600 ▼60K 14,200 ▼60K
Trang sức 99.99 13,610 ▼60K 14,210 ▼60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 06/10/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17586 17859 18432
CAD 17703 17977 18594
CHF 30640 31016 31657
CNY 0 3836 3932
EUR 28541 28758 29834
GBP 33573 33961 34894
HKD 0 3183 3385
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14257 14842
SGD 19783 20065 20632
THB 688 751 804
USD (1,2) 25743 0 0
USD (5,10,20) 25782 0 0
USD (50,100) 25810 25824 26190
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,612 28,635 29,992
JPY 160.21 160.5 170.23
GBP 33,764 33,855 35,029
AUD 17,784 17,848 18,525
CAD 17,887 17,944 18,604
CHF 30,901 30,997 31,918
SGD 19,898 19,960 20,752
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.85 18.62 20.26
THB 735.78 744.87 798.02
NZD 14,245 14,377 14,803
SEK - 2,546 2,638
DKK - 3,838 3,974
NOK - 2,664 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,713.14
TWD 739.71 - 896.2
SAR - 6,806.72 7,169.96
KWD - 82,049 87,307
AED - 6,823 7,352
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25820 26180
AUD 17766 17866 18788
CAD 17875 17975 18987
CHF 30875 30905 32486
CNY 3818.2 3843.2 3978.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28719 28749 30472
GBP 33872 33922 35680
HKD 0 3315 0
JPY 161.18 161.68 172.19
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14356 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19942 20072 20795
THB 0 716.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14150000 14150000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Cập nhật: 06/10/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30