Năm 2025: Dự kiến đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu kinh tế xã hội

Hoàng Yến
(TBTCO) - Đánh giá chung kết quả thực hiện kế hoạch năm 2025, nước ta đã cơ bản hoàn thành mục tiêu tổng quát, dự kiến đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu chủ yếu. Trong đó, tăng trưởng GDP năm 2025 ước đạt tối thiểu 8%.
aa

Theo báo cáo của Bộ Tài chính về tình hình kinh tế xã hội tháng 8 và 8 tháng đầu năm, mặc dù bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức, chúng ta đã rất nỗ lực, chủ động ứng phó với tình hình, kiên định, quyết tâm, quyết liệt hoàn thành đồng thời khối lượng công việc rất lớn.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã tập trung cao độ, hoàn thành khối lượng lớn công việc; chủ động, quyết liệt, hiệu quả trong quản lý, điều hành; kịp thời xử lý vấn đề phát sinh. Nhờ đó, tình hình kinh tế xã hội tiếp tục xu hướng tích cực, đạt nhiều kết quả nổi bật.

Thu ngân sách nhà nước 8 tháng ước đạt 88,5% dự toán

Năm 2025: Dự kiến đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu kinh tế xã hội

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ vào sáng 6/9.

Cụ thể, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 8 tháng tăng 3,25% so với cùng kỳ. Tín dụng tăng trưởng cao, mặt bằng lãi suất cho vay mới tiếp tục xu hướng giảm. Thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp tiếp tục phát triển sôi động.

Thu ngân sách nhà nước 8 tháng ước đạt 88,5% dự toán, tăng 28,5% so với cùng kỳ, trong đó thu từ sản xuất kinh doanh đạt 79,9% dự toán, tăng 15,4% trong khi đã miễn, giảm, gia hạn thuế, phí… khoảng 187,6 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ sản xuất, kinh doanh; tích cực triển khai các nhiệm vụ về tài chính – ngân sách thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Các động lực tăng trưởng truyền thống tiếp tục được thúc đẩy và làm mới. Tổng vốn FDI đăng ký 8 tháng đạt trên 26,1 tỷ USD, tăng 27,3% so với cùng kỳ, vốn FDI thực hiện khoảng 15,4 tỷ USD, tăng 8,8%.

Xuất khẩu 8 tháng đạt 305,96 tỷ USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ, nhập khẩu đạt 291,97 tỷ USD, tăng 17,9%, xuất siêu ước đạt 13,99 tỷ USD. Tiêu dùng phục hồi tích cực, tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng dần qua từng tháng, 08 tháng tăng 9,4% so với cùng kỳ; khách quốc tế đạt trên 13,9 triệu lượt người, tăng 21,7%.

Sản xuất kinh doanh tăng trưởng tích cực. Sản xuất nông nghiệp, dịch vụ duy trì đà tăng khá. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 8 tăng 8,9% so với cùng kỳ; 8 tháng tăng 8,5%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục tăng trưởng 2 con số, đạt tốc độ tăng 10%.

Chỉ số quản trị nhà mua hàng (PMI) tháng 8 đạt 50,4 điểm; hoạt động sản xuất tiếp tục được cải thiện. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động tháng 8 đạt 32,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 50,4% so với cùng kỳ; 08 tháng đạt trên 209,2 nghìn doanh nghiệp, tăng 24,5%.

Năm 2025: Dự kiến đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu kinh tế xã hội

Nhiệm vụ tăng trưởng còn nhiều thách thức

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình cũng còn không ít những khó khăn, thách thức.

Đó là tăng trưởng xuất khẩu đang có xu hướng chậm lại, tháng 8 tăng 11,4% so với cùng kỳ và được dự báo tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, số lượng đơn hàng mới giảm do ảnh hưởng từ chính sách thuế của Mỹ. Tiêu dùng chưa thật sự đột phá. Làn sóng “đầu tư tư nhân”, thu hút các dự án FDI quy mô lớn, hiện đại chưa được như kỳ vọng.

Các động lực tăng trưởng mới đang ở giai đoạn đầu, cần thời gian tạo chuyển biến và đạt kết quả; một số nhiệm vụ triển khai còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu sự chủ động theo hướng tìm việc, dồn công việc lên những tháng cuối năm.

Ổn định kinh tế vĩ mô chưa thật sự vững chắc, tiềm ẩn rủi ro; áp lực lạm phát cần tiếp tục theo dõi sát; điều hành tỷ giá, lãi suất chịu áp lực lớn từ bên ngoài, khó khăn trong việc kiểm soát dòng vốn tín dụng vào sản xuất kinh doanh.

Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp trong giai đoạn đầu vận hành còn một số khó khăn, vướng mắc; một số chính quyền địa phương chưa tập trung tổ chức khai thác tốt các không gian phát triển mới, giải quyết các công việc theo phân cấp, phân quyền còn lúng túng…

Những vấn đề này cho thấy, nhiệm vụ trong những tháng cuối năm còn rất thách thức, yêu cầu các cấp, ngành, địa phương phải chủ động, quyết liệt, sát sao hơn nữa để hoàn thành các nhiệm vụ đề ra.

Dự kiến mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 đạt 10%

Từ kết quả thực tiễn, dự báo tình hình những tháng cuối năm, Bộ Tài chính đánh giá nước ta đã cơ bản hoàn thành mục tiêu tổng quát của kế hoạch năm 2025, dự kiến đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu chủ yếu. Trong đó, tăng trưởng GDP năm 2025 ước đạt tối thiểu 8%, đạt mục tiêu của Trung ương, Quốc hội đề ra. GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.000 USD, trở thành nước thu nhập trung bình cao; lạm phát khoảng 4%. Những tháng cuối năm, cần tiếp tục phấn đấu tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8,3 - 8,5%.

Trên cơ sở bám sát dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Bộ Tài chính đã dự kiến 5 quan điểm chỉ đạo, điều hành, mục tiêu tổng quát, 15 chỉ tiêu chủ yếu năm 2026.

Dự kiến mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 đạt 10%, GDP bình quân đầu người đạt 5.400 - 5.500 USD, lạm phát khoảng 5%, tỷ lệ lao động có bằng, chứng chỉ đạt 29,5%, tỷ lệ giảm hộ nghèo khoảng 1 - 1,5%, tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới (theo bộ tiêu chí giai đoạn 2026 - 2030) đạt tối thiểu 15%...

Hoàng Yến

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80