NCB dồn lực tăng vốn và tái cơ cấu

Ánh Tuyết
NCB đặt mục tiêu năm 2026 tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng 35%, đi kèm với quản trị chất lượng nợ và quyết liệt xử lý nợ xấu. Ngân hàng cũng dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để tăng vốn điều lệ thêm 10.000 tỷ đồng, bổ sung nguồn vốn cho vay. Lợi nhuận phấn đấu đạt 1.416 tỷ đồng, ưu tiên dùng để triển khai phương án cơ cấu lại.
aa
Ngân hàng NCB khởi đầu năm với kết quả lạc quan, sắp tăng vốn lên 19.000 tỷ đồng
NCB được chấp thuận phát hành cổ phiếu riêng lẻ, sớm hoàn tất phương án cơ cấu lại trước hạn NCB đảo chiều lợi nhuận năm 2025, tăng vốn điều lệ sớm vượt 19.000 tỷ đồng

Hướng tới tăng trưởng dư nợ 35%, kiểm soát chất lượng nợ

Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB - mã Ck: NVB) vừa công bố tài liệu Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026. Đại hội dự kiến được tổ chức vào ngày 2/4 tại Hà Nội.

Tại báo cáo hoạt động năm 2025 và định hướng năm 2026, Hội đồng Quản trị NCB dự kiến trình cổ đông kế hoạch kinh doanh với mục tiêu tổng tài sản đạt 189.912 tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2025; dư nợ cho vay khách hàng đạt 131.686 tỷ đồng, tăng 35%.

Theo kế hoạch, huy động khách hàng dự kiến đạt 158.685 tỷ đồng, tăng 20%; trong đó, tiền gửi không kỳ hạn (CASA) ước đạt 15.312 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ CASA khoảng 9,6% trên tổng tiền gửi khách hàng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

"Huy động vốn bám sát diễn biến thị trường, tình hình nguồn vốn - sử dụng nguồn vốn để kịp thời có các giải pháp huy động vốn phù hợp, huy động vốn thị trường 1 tăng trưởng phù hợp với tăng trưởng tín dụng; thúc đẩy tăng trưởng CASA để gia tăng nguồn vốn giá rẻ" - Chủ tịch Hội đồng Quản trị NCB nêu rõ.

Năm 2026, NCB đặt mục tiêu lợi nhuận trước phương án cơ cấu lại đạt 1.416 tỷ đồng. Toàn bộ khoản lợi nhuận này sẽ tiếp tục được sử dụng để triển khai phương án cơ cấu lại theo định hướng của ngân hàng.

NCB đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng an toàn, phù hợp với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng và định hướng tín dụng của Ngân hàng Nhà nước, song hành với quản trị chất lượng nợ.

Theo đó, ngân hàng sẽ quyết liệt xử lý, thu hồi nợ xấu và tài sản tồn đọng, đảm bảo hoàn thành mục tiêu xử lý nợ theo đúng lộ trình, kế hoạch đặt ra và bám sát lộ trình tại phương án cơ cấu lại.

Đồng thời, quản lý chất lượng tín dụng, đảm bảo tỷ lệ nợ xấu phát sinh mới nằm trong giới hạn theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước.

Một nội dung đáng chú ý tại đại hội, Hội đồng Quản trị NCB sẽ trình phương án chào bán cổ phiếu riêng lẻ để tăng vốn điều lệ năm 2026. Ngân hàng đã lập hồ sơ đề nghị và được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận việc NCB tăng vốn điều lệ thêm 10.000 tỷ đồng.

NCB dồn lực tăng vốn và tái cơ cấu
Nguồn: NCB.

Theo đó, giá chào bán dự kiến là 10.000 đồng/cổ phiếu. Đối tượng tham gia là các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp theo quy định của Luật Chứng khoán, có năng lực tài chính, cam kết đồng hành lâu dài và chia sẻ tầm nhìn chiến lược với ngân hàng. Để đảm bảo tuân thủ quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài theo pháp luật và Điều lệ của NCB, Hội đồng Quản trị dự kiến chỉ chào bán cổ phiếu cho nhà đầu tư trong nước.

Toàn bộ số tiền thu được từ đợt phát hành riêng lẻ, ước tính khoảng 10.000 tỷ đồng, sẽ được sử dụng để bổ sung nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo thứ tự ưu tiên.

"NCB đang trong quá trình tìm kiếm, tiếp xúc và làm việc với các nhà đầu tư tiềm năng" - Chủ tịch Hội đồng Quản trị NCB cho biết.

Tính chung giai đoạn 2022 - 2026, NCB đã thực hiện lộ trình tăng vốn thần tốc, với vốn điều lệ dự kiến tăng gấp hơn 7 lần, lên 29.280 tỷ đồng năm 2026, so với mức 4.101,6 tỷ đồng của năm 2021.

Vượt toàn bộ chỉ tiêu năm 2025, đẩy nhanh xử lý tồn tại cũ

Theo báo cáo của Hội đồng Quản trị, năm 2025, NCB hoàn thành và hoàn thành vượt mức toàn bộ các chỉ tiêu kinh doanh Đại hội đồng cổ đông giao.

Theo đó, tổng tài sản của NCB đạt 163.730 tỷ đồng, tương đương 121% kế hoạch; tổng dư nợ cho vay khách hàng đạt 105% kế hoạch, đảm bảo tuân thủ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng được Ngân hàng Nhà nước giao trong năm 2025.

Huy động vốn khách hàng đạt 111% kế hoạch; tiền gửi không kỳ hạn (CASA) đạt 151% kế hoạch; thu hút thêm 473 nghìn khách hàng, nâng tổng số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ NCB lên hơn 1,8 triệu khách hàng, vượt 12% kế hoạch được đại hội thông qua.

NCB dồn lực tăng vốn và tái cơ cấu
Nguồn: NCB.

Trong bối cảnh ngân hàng tiếp tục triển khai phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2023 - 2025, định hướng đến năm 2030, NCB ghi nhận lợi nhuận trước phương án cơ cấu lại đạt 949 tỷ đồng, vượt xa kế hoạch 59 tỷ đồng được Đại hội đồng cổ đông thông qua.

"Toàn bộ lợi nhuận tạo ra được NCB chủ động sử dụng để thực hiện trích lập bổ sung dự phòng và thoái lãi dự thu, nhằm xử lý các tồn tại cũ, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành phương án cơ cấu lại" - Chủ tịch Hội đồng Quản trị NCB nêu rõ.

Bên cạnh đó, triển khai phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2023 - 2025, định hướng đến năm 2030 được phê duyệt theo quy định, NCB đã hoàn thành toàn bộ các mục tiêu và lộ trình đặt ra của năm 2025 tại phương án cơ cấu lại, trong đó, một số nội dung trọng tâm hoàn thành vượt kế hoạch.

Đơn cử, NCB tăng vốn điều lệ sớm hơn kế hoạch, khi hoàn thành tăng vốn điều lệ thêm 7.500 tỷ đồng trong năm 2025, nâng quy mô vốn điều lệ lên mức 19.280 tỷ đồng, sớm hơn 1 năm so với lộ trình tại phương án cơ cấu lại.

Kết quả thu hồi nợ xấu và tài sản tồn đọng hoàn thành vượt kế hoạch, thể hiện qua việc NCB đã hoàn thành 103% kế hoạch thu hồi nợ xấu năm 2025; lũy kế giai đoạn 2024 - 2025 đạt 112% kế hoạch thu hồi nợ tại phương án cơ cấu lại.

Ngân hàng cũng đã sử dụng toàn bộ lợi nhuận để xử lý các nghĩa vụ dự phòng và thoái lãi dự thu vượt kế hoạch. Lũy kế giai đoạn 2024 - 2025, NCB đã thu hồi, thoái lãi đạt 133% và trích lập dự phòng bổ sung đạt 128,7% so với kế hoạch tại phương án cơ cấu lại. Đồng thời, kiểm soát tốt chất lượng tín dụng mới.

Song song với quá trình cơ cấu lại toàn diện, NCB kiên định với chiến lược đã lựa chọn, đó là phát triển ngân hàng quản lý gia sản hỗn hợp số “Digital Wealth" giai đoạn 2024 - 2028, cùng với các hoạt động, giải pháp chuyển đổi số.

Đồng thời, NCB đang xây dựng nền tảng Super App, trọng tâm của chiến lược NCB giai đoạn 2024 - 2028 (tầm nhìn 2032), với Digital Wealth đóng vai trò dẫn dắt chuyển đổi số. Phiên bản thử nghiệm đầu tiên của Super App dự kiến ra mắt trong năm 2026, cung cấp hệ sinh thái tài chính số toàn diện theo 3 nhóm giải pháp chính, đó là: tiết kiệm/đầu tư - tiêu dùng - tín dụng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giao dịch trên mốc 4.000 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với vàng miếng có nơi tăng tới 2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026 thông qua các nội dung về quản trị và nhân sự nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030.
Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, phối hợp xử lý nghiêm các doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời triển khai nhiều giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

(TBTCO) - Từ ngày 10/9/2026, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị xử lý nghiêm theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, hành vi trốn đóng có thể bị phạt đến 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và lên đến 150 triệu đồng với tổ chức vi phạm.
Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

(TBTCO) - Hưởng ứng chủ trương chuyển đổi số quốc gia, LPBank đang phát triển LPBank Healthcare - hệ sinh thái tài chính số chuyên biệt cho lĩnh vực y tế, đồng hành cùng các cơ sở khám chữa bệnh xây dựng bệnh viện thông minh, tối ưu vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 141,200
Hà Nội - PNJ 136,200 141,200
Đà Nẵng - PNJ 136,200 141,200
Miền Tây - PNJ 136,200 141,200
Tây Nguyên - PNJ 136,200 141,200
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 141,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,150
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,150
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,150
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,340 14,040
Trang sức 99.99 13,350 14,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 1,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 139
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 137,624
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 10,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 94,679
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 84,948
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 81,195
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 58,119
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cập nhật: 26/07/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17839 18112 18697
CAD 18141 18417 19040
CHF 31530 31910 32550
CNY 0 3846 3939
EUR 29293 29513 30596
GBP 34260 34651 35605
HKD 0 3225 3429
JPY 153 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14925 15515
SGD 19849 20131 20717
THB 696 759 813
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26138 26508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26520
AUD 18051 18151 19074
CAD 18341 18441 19457
CHF 31837 31867 33445
CNY 3827.4 3852.4 3987.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29526 29556 31282
GBP 34554 34604 36362
HKD 0 3355 0
JPY 157.3 157.8 168.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20010 20140 20864
THB 0 726.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13550000 13550000 14050000
SBJ 12600000 12600000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,180 26,510
USD20 26,147 26,180 26,510
USD1 24,019 26,180 26,510
AUD 18,028 18,128 19,309
EUR 29,245 29,345 31,096
CAD 18,230 18,330 19,710
SGD 20,020 20,170 20,804
JPY 157.09 158.59 164.88
GBP 34,371 34,521 35,685
XAU 13,548,000 0 14,052,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/07/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80