Ngân hàng "bơm" vốn ưu đãi, xem xét hạ sâu lãi suất cho vay nhà ở xã hội

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nguồn cung nhà ở xã hội có nhiều tín hiệu khởi sắc ngay đầu năm 2025, được hứa hẹn kéo giảm giá chung cư và giải quyết nhu cầu nhà ở bức thiết cho người dân. Ngành Ngân hàng cũng tích cực đồng hành, hỗ trợ vốn phát triển nhà ở xã hội và đề xuất hạ sâu 1% lãi suất, kéo dài thời gian vay vốn ưu đãi thêm 5 năm để chủ đầu tư và người dân dễ tiếp cận vốn hơn.
aa
Ngân hàng
Khi nguồn cung nhà ở thương mại giá vừa túi tiền và nhà ở xã hội được tăng cường mặt bằng giá chung cư sẽ giảm. Ảnh tư liệu

Ngay đầu năm 2025, có 8 dự án nhà ở xã hội được phê duyệt và triển khai tại Hà Nội, với gần 1.600 căn hộ tại huyện Thường Tín (5 dự án); quận Long Biên (2 dự án) và quận Hoàng Mai (1 dự án), tạo nhiều tín hiệu tích cực cho thị trường bất động sản. Nguồn cung nhà ở xã hội dự kiến sẽ cải thiện đáng kể, với mức giá chỉ bằng 30 - 50% so với nhà thương mại được kỳ vọng giúp bình ổn giá chung cư đang leo thang một cách khó hiểu như hiện nay.

Nguồn cung nhà ở xã hội khởi sắc, hứa hẹn bình ổn giá nhà

Theo ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP. Hồ Chí Minh (HoREA), hiện rất thiếu nhà ở xã hội dẫn đến giá nhà tăng liên tục và neo giá rất cao, vượt quá khả năng tài chính của đa số người dân có thu nhập trung bình, thu nhập thấp tại đô thị.

Trước thềm Hội nghị tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội dự kiến tổ chức cuối tháng 2/2025, trong công văn gửi đến lãnh đạo Chính phủ, Bộ Xây dựng, Chủ tịch HoREA cho rằng, để xoay chuyển cục diện và cấu trúc lại thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững, cần thực hiện hai đột phá. Đó là đột phá phát triển nhà ở thương mại giá vừa túi tiền và đột phá phát triển nhà ở xã hội để thực hiện được mục tiêu phát triển ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội trong giai đoạn 2021 - 2030 và giai đoạn sau năm 2030.

Tại Hà Nội, những dự án nhà ở xã hội sắp triển khai đang thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân. Chẳng hạn, nhà ở xã hội Hạ Đình (Thanh Trì, Hà Nội) giá tạm tính 25 triệu đồng/m2, thấp hơn nhiều so với chung cư thương mại 50 - 70 triệu đồng/m2, thậm chí 100 triệu đồng/m2 tại những dự án mới. Hay dự án nhà ở xã hội cao tầng Vĩnh Hưng chỉ cách cách khu đô thị Time City 1,5km, ngay trung tâm nội thành chưa tới 2 tỷ đồng/căn, dự kiến tháng 6/2025 bắt đầu xây dựng.

Theo đánh giá, khi nguồn cung nhà ở xã hội tăng, người dân Thủ đô sẽ có thêm nhiều lựa chọn, thay vì phải lao vào thị trường chung cư đang thổi giá, làm giá cao phi lý. Điều này cũng sẽ khiến giới đầu cơ gặp khó khăn hơn, buộc phải “cắt lãi” vài trăm triệu để chạm tới nhu cầu ở thật của người dân, hoặc tiếp tục gồng lãi ngân hàng và chịu những rủi ro chính sách sắp tới khi Nhà nước vào cuộc bình ổn giá chung cư.

Khi nguồn cung nhà ở thương mại giá vừa túi tiền và nhà ở xã hội được tăng cường, những chính sách phát triển nhà ở xã hội được triển khai đúng và trúng, mặt bằng giá chung cư tại Hà Nội sẽ chịu áp lực giảm, đặc biệt là những căn đang bị “thổi giá” quá cao.

Đề xuất hạ sâu lãi suất thêm 1%, giảm tới 3%/năm

Về tình hình triển khai chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ, trao đổi gần đây, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú cho biết, để thúc đẩy việc triển khai chương trình theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023, NHNN đã thực hiện nhiều giải pháp.

Đề xuất hạ lãi suất, kéo dài thời gian ưu đãi

Ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất tiếp tục hạ thêm 1% lãi suất, tính tổng là giảm 3% và kéo dài thêm thời hạn 5 năm nữa thành 10 năm để gia tăng hơn nữa tính hấp dẫn. Tuy nhiên, việc này cần có ý kiến phối hợp của các đơn vị liên quan để Chính phủ có quyết định chính thức. Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN thông báo tới các ngân hàng thương mại tham gia chương trình không phải tính dư nợ cho vay vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hàng năm của các ngân hàng. Thời gian thực hiện chính sách này tối đa đến năm 2030 và doanh số cho vay không vượt quá số tiền mà ngân hàng thương mại đã đăng ký tham gia chương trình.

Gói tín dụng này dự kiến đáp ứng khoảng 12% nhu cầu vốn thúc đẩy thực hiện mục tiêu hoàn thành ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội, nhà ở công nhân giai đoạn 2021 - 2030 thông qua việc cho chủ đầu tư và người mua nhà vay với lãi suất thấp hơn khoảng từ 1,5 - 2% so với lãi suất cho vay trung dài hạn bình quân của các ngân hàng thương mại nhà nước.

Định kỳ 6 tháng, NHNN thông báo lãi suất cho vay trong thời gian ưu đãi cho các ngân hàng thương mại tham gia chương trình. Khi hết thời gian ưu đãi, ngân hàng thương mại và khách hàng tự thỏa thuận, thống nhất.

Vừa qua, NHNN có Công văn 10537/NHNN-CSTT ngày 26/12/2024 thông báo lãi suất cho vay mới. "Theo đó, lãi suất hiện nay đang áp dụng 6,6%/năm đối với chủ đầu tư và 6,1%/năm đối với người mua nhà cho giai đoạn từ ngày 1/1 - 30/6/2025, giảm 0,4% so với kỳ công bố 6 tháng trước. Lãi suất cho vay cũng liên tục giảm qua các lần công bố" - lãnh đạo NHNN cho biết.

Hiện ngoài 4 ngân hàng thương mại Nhà nước, TPBank, VPBank, MB, HDBank và Techcombank cũng đăng ký tham gia chương trình với số tiền 25.000 tỷ đồng, mỗi ngân hàng là 5.000 tỷ đồng, nâng quy mô chương trình lên 145.000 tỷ đồng.

"Qua tổng hợp, đến nay mới có 37/63 UBND tỉnh gửi văn bản hoặc công bố trên cổng thông tin điện tử về danh mục dự án tham gia chương trình với tổng số 90 dự án. Đến ngày 31/12/2024 doanh số giải ngân của chương trình đạt 2.845 tỷ đồng gồm 2.580 đồng cho chủ đầu tư tại 20 dự án; 265 tỷ đồng cho người mua nhà tại 15 dự án" - Phó Thống đốc NHNN thông tin.

Theo ghi nhận của NHNN, nhu cầu nhà ở xã hội rất lớn nhưng nguồn vốn và thủ tục triển khai vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập. Hiện có những người trẻ chỉ muốn thuê nhà thay vì mua nhà, nên tín dụng cần được thiết kế linh hoạt để đáp ứng thực tế. Vì vậy, NHNN đề nghị Bộ Xây dựng phối hợp chặt chẽ với các địa phương để đánh giá chính xác nhu cầu, từ đó thiết kế chính sách phù hợp và phối hợp kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong quá trình triển khai.

Cũng theo ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch HoREA, hưởng ứng chương trình phát triển ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội giai đoạn 2021 - 2030 đã có 15 tập đoàn, doanh nghiệp bất động sản lớn đăng ký tham gia với hơn 1,5 triệu căn hộ. Do đó, hiệp hội đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các địa phương bố trí đủ quỹ đất và thực hiện nhiều phương thức để tạo lập quỹ đất phát triển nhà ở xã hội.

Tăng cường quỹ đất, ưu đãi lãi suất hơn nữa

Là một trong những ngân hàng tiên phong tham gia chương trình với mục tiêu tạo điều kiện cho người thu nhập thấp tiếp cận nhà ở, ngân hàng TPBank cam kết tài trợ 5.000 tỷ đồng, trong đó gần 800 tỷ đồng đã được giải ngân trong giai đoạn đầu.

"Mặc dù TPBank nỗ lực rất lớn trong việc hỗ trợ nhà ở xã hội, nhưng thực tế triển khai vẫn gặp nhiều trở ngại, đặc biệt là về thủ tục pháp lý và nguồn vốn đối ứng. Do đó, ngân hàng mong muốn Chính phủ có chính sách hỗ trợ tốt hơn như đơn giản hóa thủ tục cấp phép và tăng cường quỹ đất dành cho nhà ở xã hội. Điều này không chỉ giúp người dân dễ dàng tiếp cận nhà ở mà còn thúc đẩy tín dụng phát triển đúng hướng" - lãnh đạo TPBank đề xuất.

Để "mở van" tín dụng hơn nữa, ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch HoREA đề nghị Bộ Xây dựng và NHNN trình Thủ tướng Chính phủ xem xét chi người mua, thuê mua nhà ở xã hội được vay với “lãi suất cho vay bằng lãi suất cho vay đối với hộ nghèo do Thủ tướng Chính phủ quy định trong từng thời kỳ”, hoàn toàn thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ. Hiện mức lãi suất cho vay ưu đãi là 4,7%/năm theo Quyết định 2690/QĐ- NHNN ngày 18/12/2024 của Ngân hàng Nhà nước áp dụng cho năm 2025 đối với dư nợ của các khoản cho vay hỗ trợ nhà ở theo gói 30 nghìn tỷ được thực hiện từ năm 2013 đến nay tại Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 7/1/2013.

"Hiện nay, mức lãi suất cho vay là 6,6%/năm nên người mua, thuê mua nhà ở xã hội tại Ngân hàng Chính sách xã hội phải vay “ưu đãi” với lãi suất 6,6%/năm là quá cao" - ông Châu bày tỏ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,970 ▼100K 14,570 ▼100K
Trang sức 99.99 13,980 ▼100K 14,580 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 ▼10K 14,662 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 ▼10K 14,663 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼10K 1,461 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼10K 1,462 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 ▼10K 1,451 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 ▼990K 143,663 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 ▼750K 108,986 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 ▼680K 98,828 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 ▼61K 8,867 ▼61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 ▼583K 84,752 ▼583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 ▲45735K 60,663 ▲54555K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Cập nhật: 21/09/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17999 18274 18856
CAD 18022 18297 18914
CHF 30950 31327 31974
CNY 0 3842 3938
EUR 29226 29446 30526
GBP 34014 34403 35332
HKD 0 3185 3387
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14582 15173
SGD 19852 20134 20703
THB 697 760 813
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,254 29,277 30,663
JPY 160.86 161.15 170.9
GBP 34,157 34,249 35,434
AUD 18,187 18,253 18,945
CAD 18,206 18,264 18,936
CHF 31,179 31,276 32,201
SGD 19,961 20,023 20,810
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,248 3,258 3,395
KRW 17.37 18.11 19.71
THB 744.24 753.43 806.71
NZD 14,537 14,672 15,108
SEK - 2,598 2,689
DKK - 3,923 4,062
NOK - 2,708 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,963.02 - 6,730.53
TWD 739.18 - 894.99
SAR - 6,805.73 7,168.69
KWD - 82,348 87,625
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,309 29,427 30,627
GBP 34,205 34,342 35,368
HKD 3,248 3,261 3,378
CHF 31,091 31,216 32,159
JPY 161.83 162.48 170.46
AUD 18,193 18,266 18,860
SGD 20,036 20,116 20,706
THB 761 764 801
CAD 18,249 18,322 18,912
NZD 14,631 15,173
KRW 17.95 19.92
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25832 25832 26192
AUD 18184 18284 19214
CAD 18201 18301 19315
CHF 31202 31232 32806
CNY 3824.9 3849.9 3985
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29404 29434 31159
GBP 34304 34354 36112
HKD 0 3305 0
JPY 161.88 162.38 172.92
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14692 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20006 20136 20868
THB 0 726.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,700 25,820 26,210
USD20 25,670 25,820 26,210
USD1 25,650 25,820 26,210
AUD 18,213 18,313 19,453
EUR 29,197 29,297 30,993
CAD 18,170 18,270 19,598
SGD 20,076 20,226 20,809
JPY 162.93 164.43 170.2
GBP 34,203 34,353 35,710
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,730 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/09/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30