Ngân hàng "bơm" vốn ưu đãi, xem xét hạ sâu lãi suất cho vay nhà ở xã hội

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nguồn cung nhà ở xã hội có nhiều tín hiệu khởi sắc ngay đầu năm 2025, được hứa hẹn kéo giảm giá chung cư và giải quyết nhu cầu nhà ở bức thiết cho người dân. Ngành Ngân hàng cũng tích cực đồng hành, hỗ trợ vốn phát triển nhà ở xã hội và đề xuất hạ sâu 1% lãi suất, kéo dài thời gian vay vốn ưu đãi thêm 5 năm để chủ đầu tư và người dân dễ tiếp cận vốn hơn.
aa
Ngân hàng
Khi nguồn cung nhà ở thương mại giá vừa túi tiền và nhà ở xã hội được tăng cường mặt bằng giá chung cư sẽ giảm. Ảnh tư liệu

Ngay đầu năm 2025, có 8 dự án nhà ở xã hội được phê duyệt và triển khai tại Hà Nội, với gần 1.600 căn hộ tại huyện Thường Tín (5 dự án); quận Long Biên (2 dự án) và quận Hoàng Mai (1 dự án), tạo nhiều tín hiệu tích cực cho thị trường bất động sản. Nguồn cung nhà ở xã hội dự kiến sẽ cải thiện đáng kể, với mức giá chỉ bằng 30 - 50% so với nhà thương mại được kỳ vọng giúp bình ổn giá chung cư đang leo thang một cách khó hiểu như hiện nay.

Nguồn cung nhà ở xã hội khởi sắc, hứa hẹn bình ổn giá nhà

Theo ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP. Hồ Chí Minh (HoREA), hiện rất thiếu nhà ở xã hội dẫn đến giá nhà tăng liên tục và neo giá rất cao, vượt quá khả năng tài chính của đa số người dân có thu nhập trung bình, thu nhập thấp tại đô thị.

Trước thềm Hội nghị tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội dự kiến tổ chức cuối tháng 2/2025, trong công văn gửi đến lãnh đạo Chính phủ, Bộ Xây dựng, Chủ tịch HoREA cho rằng, để xoay chuyển cục diện và cấu trúc lại thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững, cần thực hiện hai đột phá. Đó là đột phá phát triển nhà ở thương mại giá vừa túi tiền và đột phá phát triển nhà ở xã hội để thực hiện được mục tiêu phát triển ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội trong giai đoạn 2021 - 2030 và giai đoạn sau năm 2030.

Tại Hà Nội, những dự án nhà ở xã hội sắp triển khai đang thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân. Chẳng hạn, nhà ở xã hội Hạ Đình (Thanh Trì, Hà Nội) giá tạm tính 25 triệu đồng/m2, thấp hơn nhiều so với chung cư thương mại 50 - 70 triệu đồng/m2, thậm chí 100 triệu đồng/m2 tại những dự án mới. Hay dự án nhà ở xã hội cao tầng Vĩnh Hưng chỉ cách cách khu đô thị Time City 1,5km, ngay trung tâm nội thành chưa tới 2 tỷ đồng/căn, dự kiến tháng 6/2025 bắt đầu xây dựng.

Theo đánh giá, khi nguồn cung nhà ở xã hội tăng, người dân Thủ đô sẽ có thêm nhiều lựa chọn, thay vì phải lao vào thị trường chung cư đang thổi giá, làm giá cao phi lý. Điều này cũng sẽ khiến giới đầu cơ gặp khó khăn hơn, buộc phải “cắt lãi” vài trăm triệu để chạm tới nhu cầu ở thật của người dân, hoặc tiếp tục gồng lãi ngân hàng và chịu những rủi ro chính sách sắp tới khi Nhà nước vào cuộc bình ổn giá chung cư.

Khi nguồn cung nhà ở thương mại giá vừa túi tiền và nhà ở xã hội được tăng cường, những chính sách phát triển nhà ở xã hội được triển khai đúng và trúng, mặt bằng giá chung cư tại Hà Nội sẽ chịu áp lực giảm, đặc biệt là những căn đang bị “thổi giá” quá cao.

Đề xuất hạ sâu lãi suất thêm 1%, giảm tới 3%/năm

Về tình hình triển khai chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ, trao đổi gần đây, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú cho biết, để thúc đẩy việc triển khai chương trình theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023, NHNN đã thực hiện nhiều giải pháp.

Đề xuất hạ lãi suất, kéo dài thời gian ưu đãi

Ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất tiếp tục hạ thêm 1% lãi suất, tính tổng là giảm 3% và kéo dài thêm thời hạn 5 năm nữa thành 10 năm để gia tăng hơn nữa tính hấp dẫn. Tuy nhiên, việc này cần có ý kiến phối hợp của các đơn vị liên quan để Chính phủ có quyết định chính thức. Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN thông báo tới các ngân hàng thương mại tham gia chương trình không phải tính dư nợ cho vay vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hàng năm của các ngân hàng. Thời gian thực hiện chính sách này tối đa đến năm 2030 và doanh số cho vay không vượt quá số tiền mà ngân hàng thương mại đã đăng ký tham gia chương trình.

Gói tín dụng này dự kiến đáp ứng khoảng 12% nhu cầu vốn thúc đẩy thực hiện mục tiêu hoàn thành ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội, nhà ở công nhân giai đoạn 2021 - 2030 thông qua việc cho chủ đầu tư và người mua nhà vay với lãi suất thấp hơn khoảng từ 1,5 - 2% so với lãi suất cho vay trung dài hạn bình quân của các ngân hàng thương mại nhà nước.

Định kỳ 6 tháng, NHNN thông báo lãi suất cho vay trong thời gian ưu đãi cho các ngân hàng thương mại tham gia chương trình. Khi hết thời gian ưu đãi, ngân hàng thương mại và khách hàng tự thỏa thuận, thống nhất.

Vừa qua, NHNN có Công văn 10537/NHNN-CSTT ngày 26/12/2024 thông báo lãi suất cho vay mới. "Theo đó, lãi suất hiện nay đang áp dụng 6,6%/năm đối với chủ đầu tư và 6,1%/năm đối với người mua nhà cho giai đoạn từ ngày 1/1 - 30/6/2025, giảm 0,4% so với kỳ công bố 6 tháng trước. Lãi suất cho vay cũng liên tục giảm qua các lần công bố" - lãnh đạo NHNN cho biết.

Hiện ngoài 4 ngân hàng thương mại Nhà nước, TPBank, VPBank, MB, HDBank và Techcombank cũng đăng ký tham gia chương trình với số tiền 25.000 tỷ đồng, mỗi ngân hàng là 5.000 tỷ đồng, nâng quy mô chương trình lên 145.000 tỷ đồng.

"Qua tổng hợp, đến nay mới có 37/63 UBND tỉnh gửi văn bản hoặc công bố trên cổng thông tin điện tử về danh mục dự án tham gia chương trình với tổng số 90 dự án. Đến ngày 31/12/2024 doanh số giải ngân của chương trình đạt 2.845 tỷ đồng gồm 2.580 đồng cho chủ đầu tư tại 20 dự án; 265 tỷ đồng cho người mua nhà tại 15 dự án" - Phó Thống đốc NHNN thông tin.

Theo ghi nhận của NHNN, nhu cầu nhà ở xã hội rất lớn nhưng nguồn vốn và thủ tục triển khai vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập. Hiện có những người trẻ chỉ muốn thuê nhà thay vì mua nhà, nên tín dụng cần được thiết kế linh hoạt để đáp ứng thực tế. Vì vậy, NHNN đề nghị Bộ Xây dựng phối hợp chặt chẽ với các địa phương để đánh giá chính xác nhu cầu, từ đó thiết kế chính sách phù hợp và phối hợp kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong quá trình triển khai.

Cũng theo ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch HoREA, hưởng ứng chương trình phát triển ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội giai đoạn 2021 - 2030 đã có 15 tập đoàn, doanh nghiệp bất động sản lớn đăng ký tham gia với hơn 1,5 triệu căn hộ. Do đó, hiệp hội đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các địa phương bố trí đủ quỹ đất và thực hiện nhiều phương thức để tạo lập quỹ đất phát triển nhà ở xã hội.

Tăng cường quỹ đất, ưu đãi lãi suất hơn nữa

Là một trong những ngân hàng tiên phong tham gia chương trình với mục tiêu tạo điều kiện cho người thu nhập thấp tiếp cận nhà ở, ngân hàng TPBank cam kết tài trợ 5.000 tỷ đồng, trong đó gần 800 tỷ đồng đã được giải ngân trong giai đoạn đầu.

"Mặc dù TPBank nỗ lực rất lớn trong việc hỗ trợ nhà ở xã hội, nhưng thực tế triển khai vẫn gặp nhiều trở ngại, đặc biệt là về thủ tục pháp lý và nguồn vốn đối ứng. Do đó, ngân hàng mong muốn Chính phủ có chính sách hỗ trợ tốt hơn như đơn giản hóa thủ tục cấp phép và tăng cường quỹ đất dành cho nhà ở xã hội. Điều này không chỉ giúp người dân dễ dàng tiếp cận nhà ở mà còn thúc đẩy tín dụng phát triển đúng hướng" - lãnh đạo TPBank đề xuất.

Để "mở van" tín dụng hơn nữa, ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch HoREA đề nghị Bộ Xây dựng và NHNN trình Thủ tướng Chính phủ xem xét chi người mua, thuê mua nhà ở xã hội được vay với “lãi suất cho vay bằng lãi suất cho vay đối với hộ nghèo do Thủ tướng Chính phủ quy định trong từng thời kỳ”, hoàn toàn thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ. Hiện mức lãi suất cho vay ưu đãi là 4,7%/năm theo Quyết định 2690/QĐ- NHNN ngày 18/12/2024 của Ngân hàng Nhà nước áp dụng cho năm 2025 đối với dư nợ của các khoản cho vay hỗ trợ nhà ở theo gói 30 nghìn tỷ được thực hiện từ năm 2013 đến nay tại Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 7/1/2013.

"Hiện nay, mức lãi suất cho vay là 6,6%/năm nên người mua, thuê mua nhà ở xã hội tại Ngân hàng Chính sách xã hội phải vay “ưu đãi” với lãi suất 6,6%/năm là quá cao" - ông Châu bày tỏ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80