Ngân hàng "bơm" vốn ưu đãi, xem xét hạ sâu lãi suất cho vay nhà ở xã hội

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nguồn cung nhà ở xã hội có nhiều tín hiệu khởi sắc ngay đầu năm 2025, được hứa hẹn kéo giảm giá chung cư và giải quyết nhu cầu nhà ở bức thiết cho người dân. Ngành Ngân hàng cũng tích cực đồng hành, hỗ trợ vốn phát triển nhà ở xã hội và đề xuất hạ sâu 1% lãi suất, kéo dài thời gian vay vốn ưu đãi thêm 5 năm để chủ đầu tư và người dân dễ tiếp cận vốn hơn.
aa
Ngân hàng
Khi nguồn cung nhà ở thương mại giá vừa túi tiền và nhà ở xã hội được tăng cường mặt bằng giá chung cư sẽ giảm. Ảnh tư liệu

Ngay đầu năm 2025, có 8 dự án nhà ở xã hội được phê duyệt và triển khai tại Hà Nội, với gần 1.600 căn hộ tại huyện Thường Tín (5 dự án); quận Long Biên (2 dự án) và quận Hoàng Mai (1 dự án), tạo nhiều tín hiệu tích cực cho thị trường bất động sản. Nguồn cung nhà ở xã hội dự kiến sẽ cải thiện đáng kể, với mức giá chỉ bằng 30 - 50% so với nhà thương mại được kỳ vọng giúp bình ổn giá chung cư đang leo thang một cách khó hiểu như hiện nay.

Nguồn cung nhà ở xã hội khởi sắc, hứa hẹn bình ổn giá nhà

Theo ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP. Hồ Chí Minh (HoREA), hiện rất thiếu nhà ở xã hội dẫn đến giá nhà tăng liên tục và neo giá rất cao, vượt quá khả năng tài chính của đa số người dân có thu nhập trung bình, thu nhập thấp tại đô thị.

Trước thềm Hội nghị tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội dự kiến tổ chức cuối tháng 2/2025, trong công văn gửi đến lãnh đạo Chính phủ, Bộ Xây dựng, Chủ tịch HoREA cho rằng, để xoay chuyển cục diện và cấu trúc lại thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững, cần thực hiện hai đột phá. Đó là đột phá phát triển nhà ở thương mại giá vừa túi tiền và đột phá phát triển nhà ở xã hội để thực hiện được mục tiêu phát triển ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội trong giai đoạn 2021 - 2030 và giai đoạn sau năm 2030.

Tại Hà Nội, những dự án nhà ở xã hội sắp triển khai đang thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân. Chẳng hạn, nhà ở xã hội Hạ Đình (Thanh Trì, Hà Nội) giá tạm tính 25 triệu đồng/m2, thấp hơn nhiều so với chung cư thương mại 50 - 70 triệu đồng/m2, thậm chí 100 triệu đồng/m2 tại những dự án mới. Hay dự án nhà ở xã hội cao tầng Vĩnh Hưng chỉ cách cách khu đô thị Time City 1,5km, ngay trung tâm nội thành chưa tới 2 tỷ đồng/căn, dự kiến tháng 6/2025 bắt đầu xây dựng.

Theo đánh giá, khi nguồn cung nhà ở xã hội tăng, người dân Thủ đô sẽ có thêm nhiều lựa chọn, thay vì phải lao vào thị trường chung cư đang thổi giá, làm giá cao phi lý. Điều này cũng sẽ khiến giới đầu cơ gặp khó khăn hơn, buộc phải “cắt lãi” vài trăm triệu để chạm tới nhu cầu ở thật của người dân, hoặc tiếp tục gồng lãi ngân hàng và chịu những rủi ro chính sách sắp tới khi Nhà nước vào cuộc bình ổn giá chung cư.

Khi nguồn cung nhà ở thương mại giá vừa túi tiền và nhà ở xã hội được tăng cường, những chính sách phát triển nhà ở xã hội được triển khai đúng và trúng, mặt bằng giá chung cư tại Hà Nội sẽ chịu áp lực giảm, đặc biệt là những căn đang bị “thổi giá” quá cao.

Đề xuất hạ sâu lãi suất thêm 1%, giảm tới 3%/năm

Về tình hình triển khai chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ, trao đổi gần đây, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú cho biết, để thúc đẩy việc triển khai chương trình theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023, NHNN đã thực hiện nhiều giải pháp.

Đề xuất hạ lãi suất, kéo dài thời gian ưu đãi

Ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất tiếp tục hạ thêm 1% lãi suất, tính tổng là giảm 3% và kéo dài thêm thời hạn 5 năm nữa thành 10 năm để gia tăng hơn nữa tính hấp dẫn. Tuy nhiên, việc này cần có ý kiến phối hợp của các đơn vị liên quan để Chính phủ có quyết định chính thức. Ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN thông báo tới các ngân hàng thương mại tham gia chương trình không phải tính dư nợ cho vay vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hàng năm của các ngân hàng. Thời gian thực hiện chính sách này tối đa đến năm 2030 và doanh số cho vay không vượt quá số tiền mà ngân hàng thương mại đã đăng ký tham gia chương trình.

Gói tín dụng này dự kiến đáp ứng khoảng 12% nhu cầu vốn thúc đẩy thực hiện mục tiêu hoàn thành ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội, nhà ở công nhân giai đoạn 2021 - 2030 thông qua việc cho chủ đầu tư và người mua nhà vay với lãi suất thấp hơn khoảng từ 1,5 - 2% so với lãi suất cho vay trung dài hạn bình quân của các ngân hàng thương mại nhà nước.

Định kỳ 6 tháng, NHNN thông báo lãi suất cho vay trong thời gian ưu đãi cho các ngân hàng thương mại tham gia chương trình. Khi hết thời gian ưu đãi, ngân hàng thương mại và khách hàng tự thỏa thuận, thống nhất.

Vừa qua, NHNN có Công văn 10537/NHNN-CSTT ngày 26/12/2024 thông báo lãi suất cho vay mới. "Theo đó, lãi suất hiện nay đang áp dụng 6,6%/năm đối với chủ đầu tư và 6,1%/năm đối với người mua nhà cho giai đoạn từ ngày 1/1 - 30/6/2025, giảm 0,4% so với kỳ công bố 6 tháng trước. Lãi suất cho vay cũng liên tục giảm qua các lần công bố" - lãnh đạo NHNN cho biết.

Hiện ngoài 4 ngân hàng thương mại Nhà nước, TPBank, VPBank, MB, HDBank và Techcombank cũng đăng ký tham gia chương trình với số tiền 25.000 tỷ đồng, mỗi ngân hàng là 5.000 tỷ đồng, nâng quy mô chương trình lên 145.000 tỷ đồng.

"Qua tổng hợp, đến nay mới có 37/63 UBND tỉnh gửi văn bản hoặc công bố trên cổng thông tin điện tử về danh mục dự án tham gia chương trình với tổng số 90 dự án. Đến ngày 31/12/2024 doanh số giải ngân của chương trình đạt 2.845 tỷ đồng gồm 2.580 đồng cho chủ đầu tư tại 20 dự án; 265 tỷ đồng cho người mua nhà tại 15 dự án" - Phó Thống đốc NHNN thông tin.

Theo ghi nhận của NHNN, nhu cầu nhà ở xã hội rất lớn nhưng nguồn vốn và thủ tục triển khai vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập. Hiện có những người trẻ chỉ muốn thuê nhà thay vì mua nhà, nên tín dụng cần được thiết kế linh hoạt để đáp ứng thực tế. Vì vậy, NHNN đề nghị Bộ Xây dựng phối hợp chặt chẽ với các địa phương để đánh giá chính xác nhu cầu, từ đó thiết kế chính sách phù hợp và phối hợp kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong quá trình triển khai.

Cũng theo ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch HoREA, hưởng ứng chương trình phát triển ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội giai đoạn 2021 - 2030 đã có 15 tập đoàn, doanh nghiệp bất động sản lớn đăng ký tham gia với hơn 1,5 triệu căn hộ. Do đó, hiệp hội đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các địa phương bố trí đủ quỹ đất và thực hiện nhiều phương thức để tạo lập quỹ đất phát triển nhà ở xã hội.

Tăng cường quỹ đất, ưu đãi lãi suất hơn nữa

Là một trong những ngân hàng tiên phong tham gia chương trình với mục tiêu tạo điều kiện cho người thu nhập thấp tiếp cận nhà ở, ngân hàng TPBank cam kết tài trợ 5.000 tỷ đồng, trong đó gần 800 tỷ đồng đã được giải ngân trong giai đoạn đầu.

"Mặc dù TPBank nỗ lực rất lớn trong việc hỗ trợ nhà ở xã hội, nhưng thực tế triển khai vẫn gặp nhiều trở ngại, đặc biệt là về thủ tục pháp lý và nguồn vốn đối ứng. Do đó, ngân hàng mong muốn Chính phủ có chính sách hỗ trợ tốt hơn như đơn giản hóa thủ tục cấp phép và tăng cường quỹ đất dành cho nhà ở xã hội. Điều này không chỉ giúp người dân dễ dàng tiếp cận nhà ở mà còn thúc đẩy tín dụng phát triển đúng hướng" - lãnh đạo TPBank đề xuất.

Để "mở van" tín dụng hơn nữa, ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch HoREA đề nghị Bộ Xây dựng và NHNN trình Thủ tướng Chính phủ xem xét chi người mua, thuê mua nhà ở xã hội được vay với “lãi suất cho vay bằng lãi suất cho vay đối với hộ nghèo do Thủ tướng Chính phủ quy định trong từng thời kỳ”, hoàn toàn thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ. Hiện mức lãi suất cho vay ưu đãi là 4,7%/năm theo Quyết định 2690/QĐ- NHNN ngày 18/12/2024 của Ngân hàng Nhà nước áp dụng cho năm 2025 đối với dư nợ của các khoản cho vay hỗ trợ nhà ở theo gói 30 nghìn tỷ được thực hiện từ năm 2013 đến nay tại Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 7/1/2013.

"Hiện nay, mức lãi suất cho vay là 6,6%/năm nên người mua, thuê mua nhà ở xã hội tại Ngân hàng Chính sách xã hội phải vay “ưu đãi” với lãi suất 6,6%/năm là quá cao" - ông Châu bày tỏ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Kim TT/AVPL 17,060 ▲330K 17,360 ▲330K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Nguyên Liệu 99.99 16,350 ▲550K 16,550 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 16,300 ▲550K 16,500 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 ▲500K 17,300 ▲500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 ▲500K 17,250 ▲500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 ▲500K 17,230 ▲500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Nghệ An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Thái Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
NL 99.90 16,270 ▲800K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300 ▲800K
Trang sức 99.9 16,540 ▲330K 17,240 ▲330K
Trang sức 99.99 16,550 ▲330K 17,250 ▲330K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 ▲33K 17,352 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 ▲33K 17,353 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 ▲1536K 1,733 ▲1563K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 ▲1536K 1,734 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 ▲1518K 1,718 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 ▲3267K 170,099 ▲3267K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 ▲2475K 129,013 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 ▲2245K 116,986 ▲2245K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 ▲2013K 104,958 ▲2013K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 ▲1924K 100,319 ▲1924K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 ▲1376K 71,798 ▲1376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cập nhật: 25/03/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17832 18106 18682
CAD 18571 18848 19462
CHF 32708 33093 33738
CNY 0 3470 3830
EUR 29935 30208 31236
GBP 34503 34895 35829
HKD 0 3238 3440
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15021 15608
SGD 20048 20331 20860
THB 722 786 839
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,359
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,003 30,027 31,269
JPY 161.07 161.36 170.07
GBP 34,604 34,698 35,678
AUD 18,016 18,081 18,653
CAD 18,748 18,808 19,385
CHF 32,919 33,021 33,792
SGD 20,142 20,205 20,878
CNY - 3,758 3,858
HKD 3,297 3,307 3,425
KRW 16.18 16.87 18.24
THB 766.78 776.25 826.5
NZD 14,967 15,106 15,460
SEK - 2,772 2,854
DKK - 4,016 4,132
NOK - 2,664 2,742
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,211.87 - 6,971.6
TWD 743.5 - 895.18
SAR - 6,895.13 7,218.34
KWD - 83,583 88,386
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,109 26,139 26,359
EUR 30,029 30,150 31,328
GBP 34,728 34,867 35,873
HKD 3,297 3,310 3,426
CHF 32,853 32,985 33,909
JPY 162.03 162.68 170
AUD 18,064 18,137 18,725
SGD 20,262 20,343 20,925
THB 791 794 829
CAD 18,792 18,867 19,438
NZD 15,128 15,659
KRW 16.91 18.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26359
AUD 17999 18099 19024
CAD 18748 18848 19864
CHF 32939 32969 34548
CNY 3758.2 3783.2 3918.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30103 30133 31856
GBP 34783 34833 36593
HKD 0 3355 0
JPY 162.25 162.75 173.29
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15121 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20203 20333 21066
THB 0 751 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,175 26,225 26,359
USD20 26,175 26,225 26,359
USD1 26,175 26,225 26,359
AUD 18,065 18,165 19,280
EUR 30,242 30,242 31,656
CAD 18,717 18,817 20,130
SGD 20,292 20,442 21,453
JPY 162.64 164.14 168.74
GBP 34,660 35,010 35,884
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,670 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80