Ngân hàng dẫn dắt thị trường trái phiếu, phát hành kỳ hạn dài tiếp tục sôi động

Thu Hương
(TBTCO) - Thị trường trái phiếu doanh nghiệp năm 2024 khởi sắc khi nhóm ngân hàng đẩy mạnh phát hành, nhưng áp lực đáo hạn vẫn là thách thức lớn. Bước sang năm 2025, hoạt động phát hành dự báo tiếp tục tăng trưởng, song các doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản vẫn cần thêm thời gian để tái cấu trúc và ổn định dòng tiền.
aa
Ngân hàng dẫn dắt thị trường trái phiếu, phát hành kỳ hạn dài tiếp tục sôi động
Giá trị TPDN được phát hành và tỷ lệ phát hành riêng lẻ.

Trái phiếu doanh nghiệp phục hồi

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) năm 2024 đã ghi nhận sự phục hồi, chủ yếu nhờ vào sự gia tăng phát hành từ nhóm ngân hàng. Theo ông Nguyễn Bá Khương - Khối Phân tích, Công ty CP Chứng khoán VNDIRECT, từ quý II/2024 đến cuối năm, các ngân hàng đẩy mạnh phát hành trái phiếu, đặc biệt là các kỳ hạn dài từ 3 đến 10 năm, nhằm tăng tỷ lệ vốn huy động trung và dài hạn, tuân thủ quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về giới hạn sử dụng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn.

Tái cấu trúc giúp giảm thiểu rủi ro nợ

Theo Chuyên gia từ VIS Rating, trong năm 2025, rủi ro chậm thanh toán gốc và lãi trái phiếu được kỳ vọng duy trì ở mức thấp, nhờ xu hướng giảm mạnh các trường hợp vi phạm mới trong năm 2024. Phần lớn các doanh nghiệp gặp khó khăn đều đang tái cấu trúc, đặc biệt nhóm bất động sản hưởng lợi từ chính sách pháp lý mới, giúp cải thiện dòng tiền và xử lý nợ hiệu quả.

Nhờ đó, nhóm ngân hàng tiếp tục dẫn đầu về giá trị phát hành, với tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ (TPDNRL) đạt hơn 280.000 tỷ đồng, tăng 63,3% so với năm 2023 và chiếm 65% tổng lượng TPDN phát hành trong năm. Nếu loại trừ nhóm này, tổng giá trị TPDNRL phát hành đạt hơn 151.000 tỷ đồng, tăng 7,3% so với cùng kỳ.

Dù thị trường phát hành phục hồi, áp lực đáo hạn vẫn lớn với tổng giá trị TPDNRL đến hạn trong năm đạt gần 190.000 tỷ đồng, giảm 11,5% so với năm 2023 (sau khi đã loại trừ các khoản mua lại trước hạn và gia hạn kỳ hạn). Tuy nhiên, trong bối cảnh hoạt động sản xuất kinh doanh còn nhiều thách thức, không ít doanh nghiệp tiếp tục gặp khó khăn về dòng tiền, dẫn đến việc chậm thanh toán nghĩa vụ nợ trái phiếu.

Trước áp lực đáo hạn, nhiều tổ chức phát hành, đặc biệt là nhóm bất động sản, đã đàm phán với trái chủ để gia hạn kỳ hạn trái phiếu, tạo thêm thời gian phục hồi hoạt động kinh doanh và đảm bảo dòng tiền thanh toán nợ. Trong năm 2024, tổng giá trị TPDNRL được gia hạn kỳ hạn đạt khoảng 50.000 tỷ đồng, cho thấy nỗ lực của doanh nghiệp trong việc tái cấu trúc nợ giữa bối cảnh thị trường còn nhiều thách thức.

Ngân hàng dẫn đầu phát hành

Trong năm 2025, chuyên gia từ VNDirect cho rằng, áp lực đáo hạn TPDN dự kiến tiếp tục gia tăng. Tổng giá trị TPDNRL đáo hạn trong năm 2025 ước tính khoảng 203.000 tỷ đồng, tăng 8,5% so với năm 2024 (đã loại trừ lượng trái phiếu được mua lại trước hạn và số đã gia hạn đến ngày 24/1/2025). Trong đó, hơn 62.000 tỷ đồng là giá trị các trái phiếu đã được gia hạn kỳ hạn trước đó, chiếm 30,6% tổng giá trị đáo hạn năm 2025. Áp lực lớn nhất rơi vào nửa cuối năm, khi tổng giá trị đáo hạn của 2 quý cuối chiếm hơn 65% tổng giá trị đáo hạn cả năm.

Nhóm bất động sản tiếp tục dẫn đầu về giá trị TPDNRL đáo hạn năm 2025 với hơn 130.000 tỷ đồng, chiếm 64% tổng giá trị đáo hạn toàn thị trường. Trong đó, 43,4% (tương đương 56.000 tỷ đồng) là các lô trái phiếu đã được gia hạn kỳ hạn trước đó.

So với năm 2024, giá trị TPDNRL đáo hạn của nhóm bất động sản tăng mạnh tới 113%. Với thị trường bất động sản vẫn trầm lắng và tiến độ tháo gỡ pháp lý chưa đạt kỳ vọng, các doanh nghiệp trong ngành này có thể tiếp tục đối mặt với khó khăn về dòng tiền, làm gia tăng rủi ro vỡ nợ và áp lực lên thị trường TPDN.

Trong khi đó, nhóm tài chính - ngân hàng có tổng giá trị TPDNRL đáo hạn năm 2025 đạt hơn 33.000 tỷ đồng, chiếm 16,3% tổng giá trị đáo hạn cả năm. "Mặc dù áp lực đáo hạn tăng lên, nhưng nhóm ngân hàng có thể vẫn tích cực phát hành trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn. NHNN đã đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức cao, khoảng 16% trong năm 2025" - ông Nguyễn Bá Khương nhận định.

Với mức tăng trưởng này, nhu cầu huy động vốn của các ngân hàng dự kiến sẽ tiếp tục gia tăng, đặc biệt là thông qua phát hành TPDN kỳ hạn dài. Điều này không chỉ giúp các ngân hàng bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn mà còn góp phần đảm bảo tuân thủ quy định về tỷ lệ vốn huy động ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Do đó, nhiều khả năng hoạt động phát hành TPDNRL của nhóm ngân hàng sẽ tiếp tục sôi động trong năm 2025, góp phần hỗ trợ sự phục hồi của thị trường TPDN.

Dưới góc nhìn của chuyên gia, bà Nguyễn Thảo Hạnh – Khối Nghiên cứu Tín dụng và Dịch vụ tài chính xanh, Công ty CP FiinRatings cho biết, năm 2025, hoạt động phát hành trên thị trường TPDN nói chung và TPDNRL nói riêng được kỳ vọng sẽ tiếp tục khởi sắc nhờ 2 yếu tố chính. Thứ nhất, bên cạnh các tổ chức tín dụng là nhóm ngành phát hành dẫn dắt thị trường, năm nay nhiều khả năng sẽ ghi nhận hoạt động phát hành sôi động hơn ở nhóm ngành phi tài chính bao gồm bất động sản, hạ tầng cơ bản như năng lượng tái tạo, nước sạch,…

Thứ hai, thị trường TPDN xuất hiện nhiều yếu tố mới về kỳ hạn. Theo đó, trái phiếu được bảo lãnh, được xếp hạng tín nhiệm và đạt chuẩn xanh đã ghi nhận sự phát triển trong năm vừa qua. Kỳ vọng trong năm 2025 sẽ tiếp tục giúp thúc đẩy sự phát triển của kênh huy động vốn này.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Lý Thanh Lương - Trưởng nhóm phân tích, Khối Xếp hạng tín nhiệm và Nghiên cứu, Công ty CP Xếp hạng tín nhiệm đầu tư Việt Nam (VIS Rating) cũng cho rằng, thị trường trái phiếu năm 2025 sẽ tiếp tục phục hồi mạnh mẽ, với quy mô phát hành mới dự kiến tăng 23% so với 2024. Ngân hàng vẫn là lực đẩy chính nhờ nhu cầu tín dụng lớn, trong khi lĩnh vực bất động sản cũng khởi sắc nhờ sự trở lại của các dự án mới và nhu cầu vốn dài hạn gia tăng./.

Thu Hương

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80