Ngân hàng Nhà nước có thể tăng tỷ giá mua để bổ sung dự trữ ngoại hối

Hải Băng
(TBTCO) - Mặc dù tỷ giá mua tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước vẫn ở mức thấp hơn nhiều so với tỷ giá liên ngân hàng, trong bối cảnh đồng USD hạ nhiệt, không loại trừ khả năng Ngân hàng Nhà nước sẽ tăng tỷ giá mua để có thể bổ sung thêm ngoại tệ cho dự trữ ngoại hối.
aa
Tỷ giá hạ nhiệt sẽ thúc đẩy tăng trưởng lợi nhuận nhóm phi tài chính hai quý cuối năm?
Lãi suất huy động biến động trái chiều, tỷ giá ngân hàng trượt sâu, "thủng" mốc 25.000 VND/USD
Tỷ giá giảm “sức nóng”, nhóm ngành nào được hưởng lợi?

Trên thị trường trong nước, theo dữ liệu từ SSI Research, tính đến ngày 6/9, tỷ giá USD/VND liên ngân hàng, tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại và tỷ giá tự do đều đồng loạt hạ nhiệt và thu hẹp mức tăng so với cuối năm 2023 xuống chỉ còn 1,5%. Chênh lệch giữa tỷ giá thị trường tự do và niêm yết tại các ngân hàng thương mại gần như không đáng kể.

Hoạt động thương mại tiếp tục phục hồi tốt với mức tăng trưởng 2 con số trong tháng 8. Nhập khẩu (+12,4% so với cùng kỳ) chậm lại so với xuất khẩu (+14,5%) khi mùa cao điểm đã qua và cán cân thương mại thặng dư 19 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm.

Giải ngân FDI trong 8 tháng đầu năm đạt 14,15 tỷ USD, tăng 8,0% so với cùng kỳ và phần lớn giải ngân vào lĩnh vực chế biến chế tạo (80% tổng vốn giải ngân).

Ngân hàng Nhà nước lần đầu tiên kể từ tháng 4/2024 đã điều chỉnh giảm tỷ giá bán tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước đã giảm xuống mức 25.385 VND/USD, từ mức 25.450 trước đó. Trong tuần trước, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều chỉnh giảm tỷ giá bán tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước xuống mức 25.362 VND/USD.

“Nguồn cung ngoại tệ duy trì tích cực (cán cân thương mại ước tính thặng dư 19 tỷ USD trong 8 tháng hay giải ngân FDI đạt 14 tỷ USD), và chúng tôi không loại trừ khả năng Ngân hàng Nhà nước sẽ tăng tỷ giá mua này (như giai đoạn cuối năm 2022) để có thể bổ sung thêm ngoại tệ cho dự trữ ngoại hối” - chuyên gia của SSI Research cho hay.

Ngân hàng Nhà nước có thể tăng tỷ giá mua để bổ sung dự trữ ngoại hối

Theo các chuyên gia của Công ty Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV), kể từ khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tuyên bố thời điểm cắt giảm lãi suất, xu hướng giảm của đồng USD tiếp diễn, đã có lúc chỉ số DXY chạm mức 100,7 điểm tại ngày 23/8 – mức thấp nhất kể từ tháng 7. Sau đó, chỉ số DXY tăng nhẹ 1% trong tuần qua nhờ những thông tin tích cực từ chỉ số niềm tin tiêu dùng. Hiện tại, thị trường đang có 2 kịch bản cắt giảm lãi suất là 25 điểm cơ bản và 50 điểm cơ bản trong kỳ họp tháng 9 này với xác xuất cho 2 kịch bản này lần lượt là 73% và 27% (trước đó 1 tuần là 57% và 43%).

Ngân hàng Nhà nước có thể tăng tỷ giá mua để bổ sung dự trữ ngoại hối

Những tín hiệu về việc FED đảo chiều chính sách đã xoa dịu áp lực tỷ giá trong thời gian gần đây. Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá USD/VND tại ngày 6/9 đã giảm về mức 24.240 VND/USD (-2,07% so với cuối tháng 7). Tương tự trên thị trường tự do tỷ giá cũng ghi nhận giảm 1,69%, tỷ giá trung tâm hiện ở mức 24.202 VND/USD (-0,22% so với cuối tháng 7, +1,41% so với đầu năm).

“Nhìn chung, chúng tôi nhận thấy áp lực tỷ giá từ nay đến cuối năm không còn quá lớn, dự báo tỷ giá USD/VND sẽ giảm về ngưỡng quanh vùng 25.000 VND/USD (+3,5% so với đầu năm) dựa trên cơ sở: Giải ngân FDI, kiều hối tốt hơn trong giai đoạn cuối năm; sự suy yếu của đồng USD sau khi FED cắt giảm lãi suất (mức giảm có thể lớn hơn 25 điểm cơ bản)” – các chuyên gia của KBSV dự báo.

Trong khi đó, theo nhận định của các chuyên gia của Fiinratings, áp lực tỷ giá giảm nhưng còn nhiều biến số. Dữ liệu kinh tế của Mỹ củng cố cho khả năng FED sẽ bắt đầu cắt giảm lãi suất từ tháng 9 năm nay. Thị trường đã có các phản ứng tích cực khi áp lực bán tháo giảm trên thị trường chứng khoán.

“Môi trường tỷ giá thuận lợi được kỳ vọng sẽ làm giảm chi phí vốn nước ngoài đối với các doanh nghiệp Việt Nam, từ đó tạo ra động lực cho các doanh nghiệp tiếp cận các kênh vay vốn và phát hành trái phiếu quốc tế. Song, đây mới chỉ là xu hướng tạm thời và có thể vẫn có thể xuất hiện các biến động khó lường ảnh hưởng đến tỷ giá trong thời gian tới” – chuyên gia của Fiinratings cho hay.

Theo báo cáo vừa phát hành đầu tuần này của SSI Research, trong tuần trước, các số liệu về kinh tế của Mỹ tiếp tục phân hóa và khiến cho việc đánh giá FED giảm bao nhiêu điểm cơ bản trong kỳ họp tháng 9 thay đổi mạnh. Cụ thể, trong khi chỉ số PMI từ Viện Quản lý Cung ứng Mỹ (ISM) ngành sản xuất tiếp tục ở mức thấp, PMI ngành dịch vụ lại tương đối tích cực và cao hơn so với dự báo.

Đặc biệt, trên thị trường lao động, số liệu về số lượng việc làm mới trong tháng 8 thấp hơn nhiều so với kỳ vọng, trong khi số liệu về việc làm phi nông nghiệp mới không quá khác biệt, và tỷ lệ thất nghiệp giảm nhẹ. Do vậy, hiện tại, thị trường đang đánh giá cao hơn về việc FED sẽ giảm 25 điểm cơ bản trong kỳ họp tháng 9 tới đây./.

Hải Băng

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước giảm 100.000 - 500.000 đồng/lượng, đưa giá giao dịch về vùng 137,4 - 142,3 triệu đồng/lượng.
Nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo an toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội

Nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo an toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Góp ý cho việc sửa Luật Bảo hiểm xã hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội, nhưng bảo đảm an toàn phải là điều kiện tiên quyết.
OCB bổ nhiệm Tổng Giám đốc, kiện toàn bộ máy điều hành

OCB bổ nhiệm Tổng Giám đốc, kiện toàn bộ máy điều hành

(TBTCO) - OCB vừa bổ nhiệm ông Dương Đức Hùng giữ chức Tổng Giám đốc từ ngày 26/10/2026, đồng thời giao ông Chris Shayan phụ trách chuyển đổi số và phát triển kinh doanh bán lẻ. Việc kiện toàn nhân sự cấp cao được kỳ vọng củng cố năng lực điều hành, tạo động lực tăng trưởng cho ngân hàng.
ABBank lãi hơn 4.300 tỷ đồng sau 9 tháng, nguồn thu ngoài lãi tạo sức bật

ABBank lãi hơn 4.300 tỷ đồng sau 9 tháng, nguồn thu ngoài lãi tạo sức bật

(TBTCO) - 9 tháng năm 2026, ABBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 4.301,3 tỷ đồng, tăng 86,9%, hoàn thành gần 96% kế hoạch năm nhờ thu nhập ngoài lãi tăng mạnh và kiểm soát tốt chi phí. Dư nợ cho vay của ngân hàng tăng 18,2% so với đầu năm, đạt 134.592 tỷ đồng, trong khi tỷ lệ nợ xấu vẫn được kiểm soát ở mức 0,8%.
TPBank nhận 50 triệu USD vốn dài hạn từ DEG: Tối ưu nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính xanh

TPBank nhận 50 triệu USD vốn dài hạn từ DEG: Tối ưu nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính xanh

(TBTCO) - Chiều 20/10/2026, Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác tài chính trị giá 50 triệu USD với DEG – Định chế tài chính đầu tư phát triển trực thuộc Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW). Thỏa thuận không chỉ bổ sung nguồn vốn USD trung dài hạn, đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn quốc tế cho TPBank, mà còn mở rộng dòng tín dụng xanh và nâng tầm hệ thống quản trị rủi ro Môi trường – Xã hội theo chuẩn mực toàn cầu.
LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

(TBTCO) - Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank – mã HOSE: LPB) vừa công bố Báo cáo Tài chính quý III với nhiều điểm nhấn đáng chú ý. Tính đến ngày 30/9/2026, Ngân hàng đạt 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế lũy kế, tổng tài sản đạt 694.183 tỷ đồng, tăng trưởng tương ứng gần 9% và 29% so với cùng kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

(TBTCO) - Sáng 21/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.634 đồng, trong khi DXY tăng nhẹ 0,08% lên 101,78 điểm. Thị trường đánh giá khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất trong tháng 10 tương đối thấp, song xác suất tăng lãi suất vào tháng 12 vượt 90% tại Mỹ và khoảng 80% với Nhật Bản.
Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, với vàng miếng giảm 200.000 - 500.000 đồng/lượng và vàng nhẫn giảm 200.000 - 1,1 triệu đồng/lượng. Giá vàng thế giới cũng mất gần 11 USD/ounce, lùi về 4.132 USD/ounce.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,400 141,400
Hà Nội - PNJ 138,400 141,400
Đà Nẵng - PNJ 138,400 141,400
Miền Tây - PNJ 138,400 141,400
Tây Nguyên - PNJ 138,400 141,400
Đông Nam Bộ - PNJ 138,400 141,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,930 14,230
Miếng SJC Nghệ An 13,930 14,230
Miếng SJC Thái Bình 13,930 14,230
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,810 ▼20K 14,210 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,810 ▼20K 14,210 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,810 ▼20K 14,210 ▼20K
Trang sức 99.9 13,490 ▲340K 14,090 ▲14090K
Trang sức 99.99 13,500 ▲500K 14,100 ▲14100K
Vàng 99.9 13,000 ▼510K ▼14110K
Vàng 99.99 13,150 ▼370K ▼14120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,393 14,232
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,393 14,233
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,363 ▼11K 1,403 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,363 ▼11K 1,404 ▲1263K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,343 ▼11K 1,393 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,921 ▼594K 137,921 ▼594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,835 ▼450K 104,635 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,083 ▼409K 94,883 ▼409K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,331 ▼367K 85,131 ▼367K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,157 ▼35K 8,137 ▼35K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,444 ▼250K 58,244 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 1,423
Cập nhật: 22/10/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17579 17851 18435
CAD 17887 18162 18780
CHF 30834 31211 31854
CNY 0 3831 3927
EUR 28355 28572 29655
GBP 33773 34162 35097
HKD 0 3166 3368
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14359 14949
SGD 19696 19977 20547
THB 682 745 797
USD (1,2) 25586 0 0
USD (5,10,20) 25624 0 0
USD (50,100) 25651 25665 26035
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,650 25,650 26,030
USD(1-2-5) 24,624 - -
USD(10-20) 24,624 - -
EUR 28,483 28,506 29,859
JPY 159.35 159.64 169.32
GBP 34,001 34,093 35,270
AUD 17,778 17,842 18,521
CAD 18,063 18,121 18,792
CHF 31,016 31,112 32,043
SGD 19,810 19,872 20,654
CNY - 3,796 3,942
HKD 3,226 3,236 3,372
KRW 17.98 18.75 20.41
THB 732.09 741.13 793.14
NZD 14,369 14,502 14,936
SEK - 2,568 2,660
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,711 2,809
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,915.78 - 6,677.03
TWD 716.92 - 868.64
SAR - 6,769.75 7,132.24
KWD - 81,620 86,858
AED - 6,780 7,307
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,620 25,650 26,030
EUR 28,441 28,584 29,808
GBP 33,970 34,141 35,178
HKD 3,221 3,240 3,357
CHF 30,908 31,063 32,011
JPY 159.53 161.14 169.12
AUD 17,738 17,863 18,460
SGD 19,788 19,968 20,566
THB 736 751 788
CAD 18,036 18,163 18,762
NZD 14,461 15,019
KRW 18.84 20.84
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25665 25665 26035
AUD 17781 17881 18806
CAD 18083 18183 19199
CHF 31101 31131 32721
CNY 3813.1 3838.1 3973.2
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28551 28581 30306
GBP 34116 34166 35923
HKD 0 3300 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14493 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19861 19991 20713
THB 0 710.9 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13930000 13930000 14230000
SBJ 12500000 12500000 14230000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,547 25,667 25,960
USD20 25,517 25,667 25,960
USD1 25,497 25,667 25,960
AUD 17,697 17,876 19,035
EUR 28,378 28,478 30,134
CAD 18,031 18,131 19,436
SGD 19,933 20,083 20,638
JPY 161.53 163.03 168.59
GBP 34,035 34,185 35,246
XAU 13,928,000 0 14,232,000
CNY 0 3,792 0
THB 0 747 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 1
Cập nhật: 22/10/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30