Ngân hàng vẫn bất an với rủi ro từ tài sản bảo đảm

Chí Tín
(TBTCO) - Tăng trưởng tín dụng quý I/2022 tăng 5,04%, gấp 4 lần cùng kỳ năm ngoái là tín hiệu mừng. Nhưng các ngân hàng vẫn còn những nỗi lo về nguy cơ nợ xấu. Đặc biệt, những khoản cho vay có tài sản bảo đảm cũng chưa hẳn là ngân hàng đã “nắm đằng chuôi”, do có những tài sản có thể được thế chấp cho nhiều khoản vay.
aa

“Chiếc phao” quan trọng của ngân hàng

Các ngân hàng khi cấp tín dụng cho khách hàng thường đặt mối quan tâm đặc biệt vào việc thẩm định giá trị tài sản bảo đảm được khách hàng cầm cố, thế chấp. Theo đó, đây có thể được coi như “chiếc phao” cứu sinh quan trọng cho các ngân hàng khi có rủi ro xảy ra.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, biện pháp bảo đảm không phải là điều kiện bắt buộc khi cấp tín dụng, nhưng là một trong các yếu tố quan trọng để tổ chức tín dụng đánh giá, quyết định cấp tín dụng cho khách hàng. Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật về giao dịch bảo đảm đã dần hoàn thiện và hướng dẫn theo thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, theo đánh giá của Hiệp hội Ngân hàng, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giao dịch bảo đảm vẫn còn tương đối phức tạp, khó theo dõi do nằm rải rác ở nhiều văn bản luật khác nhau.

Dù tín dụng tăng trưởng nhưng nguy cơ nợ xấu vẫn là nỗi lo của các ngân hàng.
Dù tín dụng tăng trưởng nhưng nguy cơ nợ xấu vẫn là nỗi lo của các ngân hàng.

Một trong những quy định về tài sản bảo đảm được định giá theo quy định tại Bộ luật Dân sự. Theo đó, bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận về giá trị tài sản bảo đảm hoặc định giá thông qua tổ chức định giá tài sản khi xử lý tài sản bảo đảm. Trường hợp không có thỏa thuận thì tài sản được định giá thông qua tổ chức định giá tài sản. Việc định giá tài sản bảo đảm phải khách quan, phù hợp với giá thị trường và tổ chức định giá phải bồi thường thiệt hại nếu có hành vi trái pháp luật mà gây thiệt hại cho bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm trong quá trình định giá tài sản bảo đảm.

Có tài sản bảo đảm, cũng không hết thấp thỏm

Ông Phạm Tuấn Ngọc - Cục trưởng Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm cho biết, trong nền kinh tế thị trường, với sự phát triển đa dạng của các quan hệ kinh doanh thương mại, một tài sản có thể được dùng bảo đảm thực hiện cho nhiều nghĩa vụ. Đồng thời, tài sản không chỉ là đối tượng của biện pháp bảo đảm theo Bộ luật Dân sự, mà còn có thể là đối tượng của giao dịch dân sự có tính chất tài trợ vốn khác. Chính vì vậy, việc xác định đúng và quy định rõ ràng về vị thế và quyền ưu tiên của các bên tham gia giao dịch tài trợ vốn đóng vai trò rất quan trọng. Đây cũng là yếu tố pháp lý góp phần bảo đảm cho việc phát triển thị trường vốn an toàn, minh bạch, hiệu quả và bền vững.

Những dạng tài sản bảo đảm thông thường quy định trong Bộ luật Dân sự

Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tài sản bảo đảm gồm:

Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.

Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được.

Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.

Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.

Trong trường hợp một tài sản có thể dùng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ nợ khác nhau thì câu chuyện sẽ vẫn diễn ra bình thường ngay cả khi bên vay không trả được nợ, nhưng tài sản bảo đảm khi phát mại vẫn thu về số tiền lớn hơn tổng số nợ. Tuy nhiên, thực tế có nhiều trường hợp tài sản bảo đảm khi phát mại không đủ thanh toán cho tất cả các nghĩa vụ nợ. Trong trường hợp, các chủ nợ (đa phần là các ngân hàng) có thể sẽ phải đối diện với những tranh chấp khá cam go để thu về lợi ích tối đa cho ngân hàng mình.

Ứng xử với những thực trạng như trên, theo GS. Xuân Thảo Nguyễn - Đại học Indiana (Mỹ), kinh nghiệm quốc tế trong bảo đảm cho thấy các quốc gia thường thực hiện quy tắc chung về người đến trước được quyền ưu tiên với nhiều ngoại lệ, phản ánh thực tiễn thị trường và vị thế khác nhau của các chủ nợ khi tham gia giao dịch tài trợ vốn có bảo đảm. Tuy nhiên, các chủ nợ cũng có thể có quyền thỏa thuận thay đổi ưu tiên giữa các quyền lợi bảo đảm. Theo đó, các bên cho vay có thể ký kết thỏa thuận giữa các chủ nợ, trong đó bao gồm điều khoản về thay đổi thứ tự ưu tiên, xác định thứ tự ưu tiên giữa các quyền lợi bảo đảm và quyền được hoàn trả nợ. Cụ thể, bên cho vay có thứ tự ưu tiên cao nhất có thể chuyển nhượng quyền ưu tiên cao nhất đó cho các chủ nợ khác trong nhóm cho vay.

Ngoài ra, các ngân hàng cho rằng, hiện nay quy định pháp luật chưa có văn bản pháp lý dành riêng cho giao dịch bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng ngân hàng, trên thực tế gây rất nhiều khó khăn cho các ngân hàng trong quá trình thực hiện quyền của chủ nợ, quyền của bên nhận thế chấp hợp pháp. Việc này dễ làm kéo dài quá trình xử lý tài sản bảo đảm, làm cho hoạt động tài trợ vốn có tài sản bảo đảm vẫn còn thiên nhiều về tài sản là bất động sản, tài sản hữu hình và tài sản đã hình thành. Những tài sản khác hoặc tài sản vô hình vẫn bị các ngân hàng “ngại ngần” khi nhận thế chấp do khó đánh giá được giá trị thực của tài sản. Điều này phần nào cũng làm giảm nhiều cơ hội tiếp cận vốn của người dân và doanh nghiệp. Với bối cảnh hiện tại, các ngân hàng cho rằng, việc cụ thể hóa các quy định trong luật chuyên ngành có thể sẽ giúp các ngân hàng bớt “nơm nớp lo lắng” trong việc cho vay và quản lý tài sản bảo đảm, giúp giảm thiểu các rủi ro và tranh chấp trong xử lý nợ xấu của các ngân hàng.

Kinh nghiệm quốc tế

Theo GS. Xuân Thảo Nguyễn - Đại học Indiana (Mỹ), kinh nghiệm quốc tế trong bảo đảm cho thấy các quốc gia thường thực hiện quy tắc chung về người đến trước được quyền ưu tiên với nhiều ngoại lệ, phản ánh thực tiễn thị trường và vị thế khác nhau của các chủ nợ khi tham gia giao dịch tài trợ vốn có bảo đảm. Tuy nhiên, các chủ nợ cũng có thể có quyền thỏa thuận thay đổi ưu tiên giữa các quyền lợi bảo đảm. Theo đó, các bên cho vay có thể ký kết thỏa thuận giữa các chủ nợ, trong đó bao gồm điều khoản về thay đổi thứ tự ưu tiên, xác định thứ tự ưu tiên giữa các quyền lợi bảo đảm và quyền được hoàn trả nợ. Cụ thể, bên cho vay có thứ tự ưu tiên cao nhất có thể chuyển nhượng quyền ưu tiên cao nhất đó cho các chủ nợ khác trong nhóm cho vay.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

(TBTCO) - LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại Giải thưởng Doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (APEA) 2026, ghi nhận hành trình tái định vị thương hiệu, đổi mới sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng trong nước không có sự thay đổi với giá bán ra phổ biến ở mức 143,6 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%/năm, tập trung giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm với lĩnh vực ưu tiên; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng nhiều khoản vay. Ngân hàng không tuân thủ chỉ đạo lãi suất có thể bị xem xét lại room tín dụng, áp tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn.
Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 - 400.000 đồng/lượng tại các thương hiệu, trong khi vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 141,500
Hà Nội - PNJ 138,500 141,500
Đà Nẵng - PNJ 138,500 141,500
Miền Tây - PNJ 138,500 141,500
Tây Nguyên - PNJ 138,500 141,500
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 141,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,960 14,260
Miếng SJC Nghệ An 13,960 14,260
Miếng SJC Thái Bình 13,960 14,260
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,870 14,250
NL 99.99 13,200
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,530 14,130
Trang sức 99.99 13,540 14,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,396 14,262
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,396 14,263
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,377 1,412
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,377 1,413
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 1,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,812 138,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,511 105,311
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,696 95,496
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,881 85,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,095 81,895
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,819 58,619
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cập nhật: 21/10/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17542 17815 18391
CAD 17880 18154 18771
CHF 30738 31115 31762
CNY 0 3832 3928
EUR 28370 28587 29667
GBP 33711 34100 35037
HKD 0 3165 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14383 14973
SGD 19692 19973 20552
THB 684 747 800
USD (1,2) 25610 0 0
USD (5,10,20) 25648 0 0
USD (50,100) 25676 25690 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,479 28,502 29,862
JPY 159.14 159.43 169.08
GBP 33,922 34,014 35,194
AUD 17,752 17,816 18,503
CAD 18,030 18,088 18,757
CHF 30,960 31,056 31,977
SGD 19,816 19,878 20,661
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.96 18.73 20.38
THB 733.97 743.03 795.86
NZD 14,380 14,514 14,946
SEK - 2,570 2,661
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,706 2,805
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,921.68 - 6,682.73
TWD 716.21 - 867.76
SAR - 6,778.81 7,141.45
KWD - 81,731 86,975
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,680 25,710 26,090
EUR 28,448 28,591 29,816
GBP 33,830 34,000 35,034
HKD 3,226 3,245 3,363
CHF 30,793 30,948 31,891
JPY 158.50 160.10 168.08
AUD 17,687 17,812 18,409
SGD 19,793 19,973 20,568
THB 740 755 792
CAD 17,990 18,117 18,716
NZD 14,418 14,975
KRW 18.84 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25690 26060
AUD 17729 17829 18759
CAD 18056 18156 19170
CHF 30975 31005 32583
CNY 3814.7 3839.7 3974.8
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28566 28596 30321
GBP 34030 34080 35838
HKD 0 3300 0
JPY 160.12 160.62 171.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14497 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19855 19985 20709
THB 0 713.7 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 21/10/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30