Chỉ 55% doanh nghiệp vừa và nhỏ có tài khoản ngân hàng, cần cú hích mạnh hơn từ fintech

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Báo cáo từ Viện Chiến lược phát triển kinh tế số (IDS) cho thấy, dù thanh toán không tiền mặt tăng trưởng vượt bậc, nhưng phổ cập tài chính vẫn chậm. Tỷ lệ sở hữu tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ 50 - 55%, kém hơn các quốc gia khác và thấp hơn cả năm 2009. Do đó, cần cú hích từ fintech để tháo gỡ rào cản vốn, thúc đẩy tăng trưởng cho khu vực này.
aa
Sắp bỏ thuế khoán, ngân hàng cùng fintech đồng hành cùng hộ kinh doanh chuyển đổi Thiếu chấm điểm tín dụng "soi đường", hoạt động P2P Lending loay hoay tìm lối đi Cho vay trực tuyến vẫn "vắng bóng" nhiều tổ chức tín dụng

Ngày 17/10, Báo Nhân Dân phối hợp cùng Viện Chiến lược phát triển kinh tế số (IDS) tổ chức tường thuật trực tiếp tọa đàm “Thực thi Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia: Cơ hội để hộ kinh doanh tiếp cận công nghệ tài chính, thúc đẩy tăng trưởng”.

Hơn 5 triệu hộ kinh doanh cần cú hích từ fintech

Phát biểu tại toạ đàm, ông Lê Quốc Minh - Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân cho biết, những năm qua, hơn 5 triệu hộ kinh doanh đã và đang đóng góp khoảng 30% GDP, tạo ra hơn 10 triệu việc làm, đây là trụ cột quan trọng của nền kinh tế quốc dân.

"Tuy vậy, tiến trình chuyển đổi từ hộ kinh doanh sang doanh nghiệp còn chậm, gặp nhiều rào cản về pháp lý, khó khăn về tiếp cập vốn, công nghệ và khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính hiện đại" - ông Minh đánh giá.

Đó cũng là lý do tại sao chính sách tài chính toàn diện và chuyển đổi số được khẳng định là nhân tố then chốt để hộ kinh doanh vươn lên, đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng và phát triển bền vững.

Chỉ 55% doanh nghiệp vừa và nhỏ có tài khoản ngân hàng, cần cú hích mạnh hơn từ fintech
Tọa đàm “Thực thi Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia: Cơ hội để hộ kinh doanh tiếp cận công nghệ tài chính, thúc đẩy tăng trưởng”. Ảnh tư liệu.
Tại Việt Nam, Chính phủ chủ động nắm bắt xu thế khi hợp tác với Ngân hàng Thế giới để xây dựng một chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện. Ngày 22/01/2020, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 149/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Sau hơn 5 năm thực hiện Chiến lược, đây là thời điểm thích hợp để đánh giá tổng quan về những thành tựu đã đạt được, đồng thời nhìn nhận thẳng thắn vào những hạn chế để kịp thời khắc phục.

Cũng theo Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, hiện nhiều mô hình, nền tảng công nghệ mới của các doanh nghiệp tài chính - công nghệ (fintech) như: Momo, Finviet, EVNFinance (EVF)… hay các nhà đầu tư nước ngoài như: Công ty Thông tin tín dụng NICE (Hàn Quốc), Sojitz (Nhật Bản)… đem lại nhiều giải pháp số hóa, tài chính trực tuyến, hỗ trợ đào tạo kỹ năng, hướng dẫn pháp lý cho hộ kinh doanh.

Từ đó, góp phần thu hẹp khoảng cách về công nghệ giữa các vùng miền, giúp hộ kinh doanh tiếp cận hiệu quả nguồn vốn, dịch vụ số, hướng tới mục tiêu nâng cấp lên doanh nghiệp nhỏ và vừa, tham gia sâu hơn vào nền kinh tế số.

Nhìn chung, các doanh nghiệp fintech đã xây dựng một hệ sinh thái tài chính số toàn diện, hỗ trợ hàng trăm nghìn hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp nhỏ phát huy hiệu quả trong kinh doanh và tiếp cận tài chính minh bạch.

Theo TS. Trần Văn - Viện trưởng IDS, nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, việc tích hợp các thành tựu khoa học công nghệ mới nhất mà các nền tảng tài chính số thông minh đã hỗ trợ hàng triệu hộ kinh doanh cá thể trên cả nước, kể cả ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, trong sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa.

"Các chủ tiệm tạp hóa ngày nào còn e dè với công nghệ, nay chủ động đón nhận các dịch vụ công nghệ tài chính, nhờ đó mà tiết kiệm chi phí, thời gian và tăng đáng kể hiệu quả kinh doanh. Nhờ vậy, nhiều hộ kinh doanh có điều kiện mở rộng quy mô, đa dạng hóa mặt hàng, phục vụ người tiêu dùng tốt hơn, tạo tích lũy, hoàn thiện điều kiện pháp lý, sẵn sàng chuyển đổi thành doanh nghiệp nhỏ và vừa" - ông Văn đánh giá.

Số hóa cho hộ kinh doanh còn nhiều rào cản, pháp lý cần cởi mở hơn

Tuy nhiên, theo đánh giá của TS. Trần Văn, quá trình số hóa hộ sản xuất kinh doanh vẫn còn không ít khó khăn. Bởi khung pháp lý chưa theo kịp mô hình kinh doanh, nhận thức về công nghệ của một bộ phận chủ hộ kinh doanh, nhà sản xuất nhỏ còn hạn chế. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp công nghệ cũng đối diện với thách thức về nguồn nhân lực chất lượng cao và đầu tư tài chính cho nghiên cứu và phát triển công nghệ.

Trong gần 2 năm vừa qua, Viện Chiến lược phát triển kinh tế số dày công thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học “Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia: Con đường tiếp cận vốn mới của doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh tại Việt Nam”. Dựa trên các kết quả nghiên cứu để cho ra đời cuốn sách chuyên khảo “Tài chính toàn diện: Động lực cho tăng trưởng cao giai đoạn 2026 - 2045”.

Báo cáo tổng quan về kết quả nghiên cứu, ThS. Đoàn Ngọc Khanh - Thành viên nhóm nghiên cứu cho biết, đối với kết quả tiếp cận tài chính của nhóm yếu thế, kết quả nổi bật nhất phổ cập tài chính hiện đại đã có cải thiện. Tuy nhiên, chỉ tiêu quan trọng tăng không đáng kể, thể hiện ở hai chỉ tiêu chính.

Chỉ 55% doanh nghiệp vừa và nhỏ có tài khoản ngân hàng, cần cú hích mạnh hơn từ fintech
Báo cáo của IDS cho thấy, phổ cập dịch vụ tài chính cải thiện, nhưng nhiều chỉ tiêu quan trọng tăng không đáng kể. Nguồn: IDS.

Đó là, lượng người trưởng thành có tài khoản tại ngân hàng đối với nhóm thu nhập thấp nhất tăng rất chậm qua thời gian (25,1%) và có khoảng cách rất lớn đối với các nhóm thu nhập cao nhất (67,9%). Mức độ cải thiện thấp nhất về sở hữu tài khoản, chỉ tăng 6% sau 5 năm.

Tương tự, với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như các doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh, tình hình sở hữu tài khoản qua thời gian cải thiện rất chậm, chỉ đạt 50 - 55%. Tình hình sở hữu tài khoản năm 2023 thậm chí kém hơn so với năm 2009. So với các nước được so sánh với Việt Nam hiện nay lên tới 80 - 90%, tỷ lệ của chúng ta thấp hơn đáng kể.

"Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát, chúng tôi thấy có một chỉ tiêu nổi bật lên và có sự cải thiện rất tách biệt. Đó là chỉ tiêu về thanh toán không dùng tiền mặt trên thị trường của Việt Nam. Nếu so sánh với với các nước ở trong khu vực và những nước có cùng trình độ phát triển với Việt Nam, sẽ thấy nước ta cải thiện vượt trội về lĩnh vực thanh toán không dùng tiền mặt" - bà Khanh nêu rõ.

Cũng theo TS. Nguyễn Đức Kiên - Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nguyên Tổ trưởng Tổ tư vấn của Thủ tướng, qua khảo sát và nghiên cứu của IDS, việc phát triển và áp dụng công nghệ tài chính hiện gặp cản trở bởi sự phối hợp chính sách còn hạn chế, thiếu sự cởi mở từ các cơ quan quản lý chuyên ngành, hay giữa các công ty công nghệ và các tổ chức tài chính, tín dụng truyền thống./.

Dưới góc độ của Ngân hàng Nhà nước, PGS. TS. Chu Khánh Lân, Phó Vụ trưởng Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính (Ngân hàng Nhà nước) đánh giá, thời gian qua, doanh nghiệp fintech đã phát triển, cung cấp cho thị trường những sản phẩm tài chính theo hướng đơn giản, tiện dụng, phù hợp nhu cầu, giảm chi phí. Cùng với đó, doanh nghiệp Fintech phối hợp chặt chẽ với các hệ thống tín dụng tạo thành mạng lưới, đặc biệt hướng đến các đối tượng yếu thế, chưa có điều kiện tiếp cận đầy đủ về ngân hàng, còn gặp nhiều rào cản và thách thức khi tiếp cận các thủ tục thanh toán, chuyển tiền, bảo hiểm, tín dụng...

Cũng theo ông Lân, nhiều chính sách đã được ban hành từ năm 2020 và đang được tiếp tục hoàn thiện và triển khai trong giai đoạn 5 năm tới. Thời gian tới, cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tín dụng để hoàn thiện khung pháp lý giữa tài chính và công nghệ, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng. Chiến lược tài chính toàn diện cần sự tham gia một cách toàn diện./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80