Ngành ngân hàng liệu sẽ bình yên giữa sóng gió thuế quan?

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bức tranh ngân hàng 2025 đầy khả quan khi nhóm ngân hàng tư nhân dự kiến tăng trưởng lợi nhuận 20% và hầu hết kiểm soát nợ xấu dưới 2%. Tuy nhiên, kế hoạch đặt ra chưa phản ánh rủi ro từ căng thẳng thương mại do thuế quan, không loại trừ việc thay đổi chiến lược có thể tái định hình môi trường cạnh tranh ngành.
aa

Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư SSI (SSI Research) vừa có báo cáo cập nhật ngành ngân hàng có tựa đề: "Bình yên trong cơn bão" dựa trên công bố tài liệu Đại hội đồng cổ đông năm 2025 và đánh giá tác động từ thuế quan đối ứng.

Kế hoạch ngành ngân hàng chưa tính đến tác động từ thuế quan

Theo đó, ACB, Techcombank, MB và Sacombank đặt kế hoạch kinh doanh năm 2025 thấp hơn 4 - 5% so với ước tính, trong khi VPBank, HDBank và OCB có kế hoạch tăng trưởng mạnh hơn. Về chất lượng tài sản, hầu hết các ngân hàng đặt mục tiêu tỷ lệ nợ xấu dưới 2%, ngoại trừ VIB và OCB.

Ngành ngân hàng liệu sẽ bình yên giữa sóng gió thuế quan?
Ngành ngân hàng liệu sẽ bình yên giữa sóng gió thuế quan? Ảnh tư liệu.

Dư nợ nhóm ngân hàng tư nhân tăng mạnh 21%

Theo đánh giá của SSI Research, mặc dù dư nợ tín dụng dự kiến tăng mạnh 21% so với cùng kỳ đối với nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, tăng trưởng lợi nhuận trước thuế thấp hơn một chút so với năm 2024 (tăng 20%), phản ánh giả định về biên lãi ròng năm 2025 thận trọng của ngành trong bối cảnh gia tăng cạnh tranh.

"Hiện kế hoạch hiện tại trình Đại hội đồng cổ đông của các ngân hàng chưa tính đến rủi ro liên quan đến mức thuế đối ứng cao từ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, với việc tạm hoãn áp thuế đối với hầu hết các quốc gia trong 90 ngày để tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán thương mại, khiến tác động đến lợi nhuận năm 2025 được kiểm soát phần nào, đặc biệt với hoạt động tích trữ hàng hóa có thể diễn ra trong quý II/2025" - nhóm phân tích nhận định.

Về kế hoạch chi trả cổ tức, hầu hết các ngân hàng lựa chọn không chi trả cổ tức bằng tiền mặt (trừ ACB, MB và OCB) để duy trì nguồn vốn. Do đó, việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu tiếp tục là lựa chọn chính của ngân hàng.

Trong đó, VietinBank nổi bật với kế hoạch chia cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 44,64% từ lợi nhuận giữ lại trước năm 2026 và các năm 2021 - 2022, và đề xuất giữ lại toàn bộ lợi nhuận năm 2024, tương đương với 29,05% vốn điều lệ hiện tại.

Trong khi đó, một số ngân hàng như Vietcombank, BIDV và MB đề cập tới việc tăng vốn điều lệ thông qua hình thức phát hành riêng lẻ.

"Đáng chú ý, MSB đề xuất thoái vốn khỏi TNEX Finance trong năm 2025 nếu điều kiện thị trường thuận lợi, đồng thời hướng đến việc mua lại một công ty chứng khoán và/hoặc công ty quản lý quỹ. Do Tập đoàn ROX (một bên liên quan của MSB) có nhu cầu cao về huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu. Việc sở hữu một công ty chứng khoán và công ty quản lý tài sản trong hệ sinh thái là phù hợp với định hướng chung của tập đoàn" - SSI Research nhìn nhận.

Đánh giá tác động lan toả từ thuế quan

Theo nhóm phân tích, tác động tiềm năng của thuế đối ứng từ phía Hoa Kỳ đối với ngành ngân hàng là tương đối phức tạp, do mối liên hệ chặt chẽ giữa ngân hàng và các ngành bị ảnh hưởng trực tiếp như: Dệt may, thủy sản, sản phẩm gỗ và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, cũng như các ngành bị ảnh hưởng gián tiếp như tiêu dùng và bất động sản.

Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các ngân hàng liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có thể thấy rõ từ tỷ trọng các khoản vay bằng ngoại tệ trong tổng dư nợ cho vay, cũng như tỷ lệ huy động vốn bằng ngoại tệ trên tổng huy động.

Ngành ngân hàng liệu sẽ bình yên giữa sóng gió thuế quan?
Nguồn: SSI Research.

Ngân hàng liên quan đến xuất khẩu, FDI và cho vay tiêu dùng chịu sức ép

SSI Research đánh giá những ngân hàng có mức độ liên quan cao đến các ngành xuất khẩu và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ chịu tác động rõ rệt hơn nếu mức thuế đối ứng được áp dụng ở mức cao. Các công ty tài chính tiêu dùng cũng có thể bị ảnh hưởng, do đối tượng khách hàng chính là người lao động phổ thông, người có thu nhập thấp và công nhân trong các khu công nghiệp - nhóm người dễ bị tổn thương trước các cú sốc kinh tế.

Thống kê của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư cũng cho thấy, dư nợ cho vay đối với các doanh nghiệp FDI hiện đang phân bổ không đều, với phần lớn tập trung tại các ngân hàng quốc doanh.

Tính đến cuối năm 2024, Vietcombank đứng đầu với dư nợ FDI đạt 147.778 tỷ đồng, chiếm 10,2% tổng dư nợ. VietinBank theo sau với 99.486 tỷ đồng (5,78%), trong khi BIDV đạt 72.708 tỷ đồng (3,54%).

Ở khối ngân hàng thương mại cổ phần, mặc dù đang tích cực mở rộng tiếp cận với nhóm khách hàng FDI, tỷ trọng dư nợ vẫn còn thấp. Cụ thể, MB ghi nhận dư nợ FDI đạt 18.816 tỷ đồng (2,42%); Techcombank đạt 12.167 tỷ đồng (2,01%); VPBank có dư nợ FDI 3.770 tỷ đồng (0,54%).

Trong bối cảnh tạm ngừng áp thuế, SSI Research cho rằng, các ngân hàng có mức độ liên quan cao đến xuất khẩu và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, có thể được hưởng lợi trong ngắn hạn, đồng thời có thêm thời gian để chuẩn bị và phát triển chiến lược trung hạn. Nếu hoạt động tích trữ hàng hóa tiếp tục diễn ra trong giai đoạn này, SSI Research cho rằng, ước tính lợi nhuận năm 2025 của các ngân hàng sẽ không bị ảnh hưởng quá lớn.

Tuy nhiên, về dài hạn, triển vọng vẫn còn nhiều yếu tố bất định và các tác động có thể chỉ bắt đầu rõ nét từ cuối năm 2025 hoặc đầu năm 2026.

Mặc dù còn quá sớm để đưa ra dự báo cụ thể, nhưng một sự dịch chuyển dần về động lực tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, từ định hướng xuất khẩu, đặc biệt là dựa vào doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sang tập trung hơn vào các động lực trong nước như tiêu dùng nội địa, đầu tư tư nhân và đầu tư công, cũng có thể tái định hình môi trường cạnh tranh của ngành ngân hàng trong dài hạn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼550K 16,000 ▼550K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼550K 15,950 ▼550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼350K 16,950 ▼350K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼350K 16,900 ▼350K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼350K 16,880 ▼350K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,670 ▼600K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700 ▼600K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17742 18015 18591
CAD 18512 18789 19406
CHF 32581 32965 33609
CNY 0 3470 3830
EUR 29794 30066 31094
GBP 34338 34729 35663
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14925 15512
SGD 19981 20263 20791
THB 718 782 835
USD (1,2) 26082 0 0
USD (5,10,20) 26123 0 0
USD (50,100) 26151 26171 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80