Người lao động có xu hướng tiếp tục ở lại "lưới an sinh"

Mai Lâm
(TBTCO) - Trong năm 2025, số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần giảm 26,15% so với năm 2024, cho thấy xu hướng người lao động tiếp tục ở lại "lưới an sinh" để bảo đảm an sinh lâu dài đang được gia tăng.
aa

Diện bao phủ các loại hình bảo hiểm tiếp tục mở rộng

Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Lê Hùng Sơn cho biết, năm 2025 có ý nghĩa quan trọng, là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm (2021 - 2025); chính quyền thực hiện sắp xếp tinh gọn bộ máy, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp và triển khai các quy định mới của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế. Bám sát sự chỉ đạo của Bộ Tài chính và diễn biến điều hành kinh tế - xã hội vĩ mô trong năm, với tinh thần đoàn kết, chủ động, trách nhiệm, tâm huyết, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chủ động nhận diện những khó khăn, vướng mắc, đề ra các phương hướng, kế hoạch hành động kịp thời, với các giải pháp sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả để hoàn thành và hoàn thành vượt các chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị được giao năm 2025.

Người lao động có xu hướng tiếp tục ở lại
Số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần giảm cho thấy xu hướng người lao động tiếp tục ở lại "lưới an sinh". Ảnh: Đức Thanh

Năm 2025, thiên tai, bão lũ tác động mạnh đến việc mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Tuy vậy, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam vẫn kiên trì phát triển người tham gia, bảo đảm an sinh ngày càng được mở rộng.

Trong năm 2025, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo quyết liệt, đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức hành động. Lãnh đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã trực tiếp làm việc với địa phương, xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp và xây dựng kịch bản phù hợp với từng cơ sở. Công tác dự báo được triển khai sớm, sát thực tiễn, gắn với giao chỉ tiêu cụ thể cho các đơn vị. Dữ liệu đối tượng tham gia được chuẩn hóa, đồng bộ với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tạo nền tảng phát triển bền vững bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

Qua đó, diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tiếp tục mở rộng, hoàn thành chỉ tiêu Chính phủ giao, ngay cả ở những địa phương chịu tác động nặng nề của thiên tai, bão lũ. Ước trong năm 2025, độ bao phủ bảo hiểm xã hội đạt 45,1% lực lượng lao động trong độ tuổi, trong đó, bảo hiểm xã hội bắt buộc đạt tỷ lệ bao phủ khoảng 38,6% lực lượng lao động trong độ tuổi, bảo hiểm xã hội tự nguyện đạt 6,5% lực lượng lao động trong độ tuổi. Bảo hiểm thất nghiệp đạt gần 35,1% lực lượng lao động trong độ tuổi. bảo hiểm y tế đạt trên 95,1% dân số, đưa Việt Nam sớm hoàn thành mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân.

Sự tăng trưởng người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong bối cảnh nhiều biến động năm 2025 không chỉ thể hiện sự nỗ lực, chủ động ứng phó của hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam, mà còn khẳng định niềm tin của người dân vào chính sách an sinh của Đảng và Nhà nước.

Bảo đảm chi trả đầy đủ, kịp thời các chế độ cho người thụ hưởng

Trong năm 2025, cùng với việc triển khai đồng thời nhiều chính sách mới theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, Luật Bảo hiểm y tế năm 2024 và thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy theo mô hình mới, việc giải quyết, chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và quyền lợi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế cho người tham gia vẫn được đảm bảo đầy đủ, kịp thời, không gián đoạn.

Chủ động từ sớm, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chuẩn bị đầy đủ nguồn lực triển khai Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế; đồng thời rà soát quy trình, đơn giản hóa thủ tục, bảo đảm quyền lợi người lao động không gián đoạn khi áp dụng chính sách và mô hình mới.

Đã giải quyết cho hơn 1,04 triệu người hưởng bảo hiểm xã hội một lần năm 2025

Trong năm 2025, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã giải quyết cho hơn 1,04 triệu người được hưởng bảo hiểm xã hội một lần. Đáng chú ý, số người hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội một lần đã giảm 26,15% so với năm 2024, cho thấy xu hướng người lao động tiếp tục ở lại lưới an sinh để bảo đảm an sinh lâu dài đang được gia tăng. Cùng với đó, mức độ quan tâm, tìm hiểu về các chính sách mới của Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi ngày càng tăng, thể hiện sự chuyển biến rõ rệt trong nhận thức của người dân về vai trò và tầm quan trọng của bảo hiểm xã hội trong đời sống.

Các chế độ đối với người thuộc diện sắp xếp tổ chức bộ máy được giải quyết kịp thời. Tính đến hết tháng 11/2025 đã giải quyết cho 79.574 trường hợp nghỉ, nghỉ hưu theo Nghị định số 177/2024/NĐ-CP quy định chế độ, chính sách đối với các trường hợp không tái cử, tái bổ nhiệm và cán bộ thôi việc, nghỉ hưu theo nguyện vọng và Nghị định số 178/2024/NĐ-CP về chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Ước tính cả năm 2025, toàn hệ thống giải quyết cho hơn 186 nghìn người hưởng hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, gần 9,1 triệu lượt hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, thực hiện chi trả hơn 773 nghìn quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp và hỗ trợ học nghề…

Công tác chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội tiếp tục được tổ chức chặt chẽ, an toàn và linh hoạt. Đặc biệt, chủ động chi trả sớm lương hưu, trợ cấp vào các dịp lễ, Tết; triển khai nhiều phương án chi trả phù hợp cho người dân tại các địa bàn bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ, bảo đảm không để người hưởng bị gián đoạn quyền lợi. Hằng tháng , cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả an toàn cho trên 3,5 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội, trong đó khoảng 83% nhận qua tài khoản cá nhân tại khu vực đô thị.

Với mục tiêu bảo đảm quyền lợi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phối hợp chặt chẽ với ngành Y tế để kịp thời tháo gỡ các vướng mắc. Năm 2025, ước có khoảng 195,5 triệu lượt khám chữa bệnh bảo hiểm y tế chi phí đề nghị thanh toán khoảng 161.628 tỷ đồng, tăng lần lượt 6,5% và 14,3% so với năm 2024.

Thực tế ghi nhận, nhiều người dân bày tỏ niềm vui, sự phấn khởi khi được tiếp cận, thụ hưởng các quyền lợi bảo hiểm xã hội mà Luật Bảo hiểm xã hội trước đây chưa quy định. Trong đó, việc giảm thời gian đóng bảo hiểm xã hội để hưởng lương hưu từ 20 năm xuống còn 15 năm đã mở ra cơ hội tiếp cận lương hưu cho nhiều người, đặc biệt là những người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội ngắn. Bên cạnh đó, quy định bổ sung chế độ thai sản cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, nhiều trường hợp khi sinh con đã được hỗ trợ 2 triệu đồng - chính sách này khiến nhiều người thực sự vui mừng và bất ngờ khi biết rằng ngoài mục tiêu lâu dài là hưởng chế độ hưu trí, họ còn được thụ hưởng thêm chế độ ngắn hạn thiết thực và có tính nhân văn.

Mai Lâm

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80