Nhiều sức hút trên thị trường trái phiếu xanh

(TBTCO) - Sự tham gia của các tổ chức tài chính quốc tế và các quỹ đầu tư lớn vào các đợt phát hành trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững trong thời gian qua đã góp phần tạo nên sức hút đáng kể cho thị trường, phản ánh niềm tin ngày càng tăng vào triển vọng của trái phiếu xanh tại Việt Nam.
aa
Nhiều sức hút trên thị trường trái phiếu xanh
Tại Việt Nam, thị trường trái phiếu xanh dù chỉ mới hình thành song ghi nhận sự phát triển đáng khích lệ. Ảnh tư liệu minh họa

Trước thách thức của biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, Việt Nam và gần 150 quốc gia đã cam kết tại Hội nghị Công ước khung Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 26 (COP26) đưa mức phát thải ròng về “0” vào năm 2050. Đây là một cột mốc quan trọng, khẳng định trách nhiệm và vai trò của Việt Nam trong các nỗ lực toàn cầu, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu. Trong đó, tài chính xanh, đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp xanh, được xác định là công cụ hữu hiệu để huy động nguồn lực, hỗ trợ các dự án thân thiện với môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh và bền vững.

Hoàn thiện khung chính sách

Việt Nam được công nhận là một trong những quốc gia sớm thực hiện các cam kết về môi trường, đặc biệt trong việc thực hiện các hiệp định và thỏa thuận quốc tế liên quan đến bảo vệ môi trường.

Giá trị phát hành năm 2024 tăng gần 2 lần

Trong năm 2024, thị trường trái phiếu xanh, trái phiếu liên kết bền vững cũng chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ với tổng giá trị trái phiếu phát hành đạt khoản 10,3 nghìn tỷ đồng, tăng gần 1,9 lần so với năm 2023, phản ánh sự quan tâm ngày càng tăng từ các tổ chức phát hành và nhà đầu tư.

Đến nay, khung pháp lý về trái phiếu xanh về cơ bản đã được quy định đầy đủ, tạo tiền đề để Chính phủ, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu phục vụ cho tăng trưởng xanh bền vững. Luật Bảo vệ môi trường được ban hành và có hiệu lực từ ngày 1/1/2022 đã đặt nền tảng pháp lý cơ bản cho trái phiếu xanh. Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/1/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và các nghị định của Chính phủ về phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu doanh nghiệp đã quy định cụ thể việc phát hành trái phiếu xanh để huy động vốn cho các dự án xanh.

Ngày 17/11/2021, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 101/2021/TT-BTC quy định về giá dịch vụ trong lĩnh vực chứng khoán áp dụng tại Sở Giao dịch chứng khoán và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, theo đó giảm 50% giá dịch vụ đăng ký niêm yết, giá giao dịch và giá lưu ký đối với trái phiếu xanh, khuyến khích các tổ chức tham gia phát hành và đầu tư.

Hiện Bộ Tài chính đang xây dựng đề án phát hành thí điểm trái phiếu chính phủ xanh, tiếp tục khuyến khích các địa phương và doanh nghiệp phát hành trái phiếu xanh, tạo điều kiện đa dạng hóa sản phẩm tài chính xanh, theo đó tạo cơ sở để Việt Nam có thể khai thác tối đa nguồn lực từ thị trường trong nước và quốc tế để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Xu hướng "xanh hóa" lan tỏa trong cộng đồng doanh nghiệp

Trên thế giới, thị trường trái phiếu xanh đã và đang ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ. Theo tổ chức Sáng kiến Trái phiếu Khí hậu, tổng giá trị trái phiếu xanh, xã hội và bền vững (GSS) phát hành năm 2024 ước đạt 1,1 nghìn tỷ USD, tăng 12% so với năm 2023, phản ánh xu hướng gia tăng mạnh mẽ trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, hạ tầng bền vững và quản lý tài nguyên thiên nhiên.

Tại Việt Nam, thị trường trái phiếu xanh dù chỉ mới hình thành từ năm 2016 song ghi nhận sự phát triển đáng khích lệ. Các địa phương như TP. Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu tiên phong với việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương xanh nhằm tài trợ cho các dự án bảo vệ môi trường. Từ đó, các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các tổ chức tài chính, cũng mạnh dạn bước vào lĩnh vực này.

Tuy quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp bền vững của Việt Nam còn khiêm tốn so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia và Philippines với tỷ lệ ước tính lần lượt vào khoảng 5%, 10% và 20%, nhưng tốc độ tăng trưởng trong năm 2024 cho thấy tiềm năng to lớn của thị trường này.

Trong năm 2024, các ngân hàng thương mại gồm: BIDV, Vietcombank và HDBank tham gia phát hành trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững, với mục tiêu tài trợ cho các dự án bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững.

Đáng chú ý, thị trường lần đầu tiên ghi nhận sự tham gia của các lô trái phiếu xanh do doanh nghiệp phi tài chính phát hành như: Công ty Đầu tư và Phát triển Đa quốc gia I.D.I và Công ty TNHH Nước sạch Hòa Bình - Xuân Mai cũng đạt được những thành công đáng kể, lần lượt phát hành 1.000 tỷ đồng và 875 tỷ đồng để đầu tư vào các dự án phát triển bền vững trong nuôi trồng thủy sản và cung cấp nước sạch.

Các giao dịch này đều được cấu trúc theo nguyên tắc trái phiếu xanh của Hiệp hội Thị trường vốn Quốc tế (ICMA), được xác nhận độc lập trước và sau phát hành bởi các tổ chức uy tín quốc tế và trong nước, đảm bảo minh bạch và góp phần ngăn chặn tình trạng “rửa xanh”.

Các lô trái phiếu xanh phát hành bởi các tổ chức phát hành ở Việt Nam đến nay chủ yếu có kỳ hạn trên 5 năm và có thể đạt 20 năm, cao hơn so với trung bình của thị trường năm 2024 đạt gần 4,96 năm. Nổi bật gần đây có trái phiếu xanh kỳ hạn 20 năm của Công ty Nước sạch Hòa Bình - Xuân Mai là kỳ hạn dài nhất trong vòng hơn một thập kỷ qua, đáp ứng vốn dài hạn cho đầu tư hạ tầng. Lãi suất tương đối hợp lý và thấp hơn mặt bằng chung xét theo loại hình doanh nghiệp.

Sự chuyển dịch về cơ cấu phát hành trong thời gian qua, từ tập trung vào khối tài chính ngân hàng sang sự tham gia của các doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực khác như năng lượng tái tạo, thủy sản bền vững và cơ sở hạ tầng, phản ánh xu hướng "xanh hóa" đang lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Điều này cũng thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.

Qua quan sát, sự tham gia của các tổ chức tài chính quốc tế và các quỹ đầu tư lớn vào các đợt phát hành trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững trong thời gian qua cũng góp phần tạo nên sức hút đáng kể cho thị trường, phản ánh niềm tin ngày càng tăng vào triển vọng của trái phiếu xanh tại Việt Nam./.

Giải pháp phát triển bền vững thị trường trái phiếu xanh

Tuy có nhiều tiềm năng phát triển, thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Việc xây dựng khung pháp lý hoàn thiện, nâng cao nhận thức cộng đồng và thúc đẩy hợp tác quốc tế sẽ là những yếu tố then chốt đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam.

Trong đó, việc hoàn thiện khung pháp lý là ưu tiên hàng đầu. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang trình Thủ tướng Chính phủ xem xét ban hành quyết định về tiêu chí môi trường và việc xác nhận đối với dự án đầu tư được cấp tín dụng xanh, phát hành trái phiếu xanh, từ đó, doanh nghiệp có thể hưởng ưu đãi của Nhà nước khi phát hành và đầu tư trái phiếu xanh cũng như tránh tình trạng "tẩy xanh" dự án.

Đồng thời, danh mục phân loại xanh cũng hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước phối hợp để quản lý, giám sát thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đảm bảo thị trường hoạt động lành mạnh, hiệu quả và góp phần cho sự phát triển của nền tài chính xanh.

Đây cũng được coi là một trong các yếu tố then chốt để thu hút thêm nhiều nhà đầu tư tham gia vào thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam. Song song với việc hoàn thiện khung khổ pháp lý, cần có cơ chế giám sát chặt chẽ nhằm ngăn chặn tình trạng “tẩy xanh” và đảm bảo tính minh bạch trong quá trình phát hành và sử dụng vốn.

Nâng cao nhận thức cũng là một trong những giải pháp quan trọng. Bộ Tài chính và các tổ chức vận hành thị trường sẽ tiếp tục triển khai các chương trình đào tạo, hội thảo chuyên đề nhằm cung cấp kiến thức về trái phiếu xanh cho doanh nghiệp và nhà đầu tư. Đồng thời, cần tăng cường năng lực cho các tổ chức đánh giá và tư vấn độc lập để hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc chuẩn bị và phát hành trái phiếu xanh./. Ánh Tuyết

Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính (Bộ Tài chính)

Đọc thêm

LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

LPBank lãi 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế sau 9 tháng đầu năm 2026

(TBTCO) - Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank – mã HOSE: LPB) vừa công bố Báo cáo Tài chính quý III với nhiều điểm nhấn đáng chú ý. Tính đến ngày 30/9/2026, Ngân hàng đạt 10.421 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế lũy kế, tổng tài sản đạt 694.183 tỷ đồng, tăng trưởng tương ứng gần 9% và 29% so với cùng kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay 21/10: USD trong nước biến động hẹp, kỳ vọng Fed và BoJ tăng lãi suất dồn về cuối năm

(TBTCO) - Sáng 21/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.634 đồng, trong khi DXY tăng nhẹ 0,08% lên 101,78 điểm. Thị trường đánh giá khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất trong tháng 10 tương đối thấp, song xác suất tăng lãi suất vào tháng 12 vượt 90% tại Mỹ và khoảng 80% với Nhật Bản.
Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, với vàng miếng giảm 200.000 - 500.000 đồng/lượng và vàng nhẫn giảm 200.000 - 1,1 triệu đồng/lượng. Giá vàng thế giới cũng mất gần 11 USD/ounce, lùi về 4.132 USD/ounce.
IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

(TBTCO) - Giữa nhiều biến động kinh tế toàn cầu, Việt Nam vẫn tăng trưởng nổi bật, được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nâng dự báo GDP. Để duy trì thành quả này, IMF nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình, nâng cao chất lượng tăng trưởng, đồng thời khuyến nghị củng cố bộ đệm tài khóa và kiểm soát lạm phát trước những rủi ro toàn cầu.
Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay thực chất, không cào bằng mà cần lựa chọn đúng đối tượng. Nhiều ngân hàng nhanh chóng công bố các gói tín dụng ưu đãi, giảm lãi suất cho vay tới 2%, với mức lãi suất từ 6%/năm, đồng thời chấp nhận giảm thu nhập để hỗ trợ doanh nghiệp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Hà Nội - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Miền Tây - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,930 ▼30K 14,230 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 13,930 ▼30K 14,230 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 13,930 ▼30K 14,230 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,830 ▼40K 14,230 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,830 ▼40K 14,230 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,830 ▼40K 14,230 ▼20K
NL 99.99 13,150 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▼50K
Trang sức 99.9 13,510 ▼20K 14,110 ▼20K
Trang sức 99.99 13,520 ▼20K 14,120 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,393 ▼3K 14,232 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,393 ▼3K 14,233 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,374 ▼3K 1,409 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,374 ▼3K 141 ▼1272K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,354 ▼3K 1,399 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,515 ▼297K 138,515 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,285 ▼226K 105,085 ▼226K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,492 ▼204K 95,292 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,698 ▼183K 85,498 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,192 ▼64903K 8,172 ▼73723K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,694 ▼125K 58,494 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Cập nhật: 21/10/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17638 17911 18486
CAD 17874 18148 18761
CHF 30685 31061 31705
CNY 0 3831 3926
EUR 28398 28614 29692
GBP 33839 34229 35154
HKD 0 3165 3367
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14396 14983
SGD 19698 19979 20545
THB 684 748 801
USD (1,2) 25600 0 0
USD (5,10,20) 25638 0 0
USD (50,100) 25666 25680 26045
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,690 25,690 26,070
USD(1-2-5) 24,663 - -
USD(10-20) 24,663 - -
EUR 28,466 28,489 29,844
JPY 159.15 159.44 169.08
GBP 33,985 34,077 35,258
AUD 17,821 17,885 18,565
CAD 18,060 18,118 18,786
CHF 30,959 31,055 31,968
SGD 19,826 19,888 20,678
CNY - 3,800 3,945
HKD 3,230 3,240 3,377
KRW 18.01 18.78 20.44
THB 733.02 742.07 794.12
NZD 14,368 14,501 14,933
SEK - 2,567 2,658
DKK - 3,818 3,954
NOK - 2,705 2,803
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,924.28 - 6,688.93
TWD 720.08 - 872.45
SAR - 6,779.95 7,142.82
KWD - 81,747 86,992
AED - 6,790 7,318
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,458 28,601 29,825
GBP 33,958 34,129 35,165
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,780 30,935 31,878
JPY 158.61 160.21 168.19
AUD 17,768 17,893 18,491
SGD 19,804 19,984 20,579
THB 738 753 790
CAD 18,016 18,143 18,742
NZD 14,447 15,004
KRW 18.83 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25650 25680 26040
AUD 17819 17919 18842
CAD 18049 18149 19162
CHF 30923 30953 32530
CNY 3813.5 3838.5 3973.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28568 28598 30320
GBP 34139 34189 35960
HKD 0 3300 0
JPY 160.04 160.54 171.05
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14504 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19853 19983 20706
THB 0 714 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13950000 13950000 14250000
SBJ 12500000 12500000 14250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,585 25,705 26,000
USD20 25,555 25,705 26,000
USD1 25,535 25,705 26,000
AUD 17,867 17,967 19,072
EUR 28,387 28,487 30,145
CAD 18,006 18,106 19,411
SGD 19,948 20,098 20,911
JPY 160.63 162.13 167.66
GBP 34,016 34,166 35,470
XAU 13,928,000 0 14,232,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 750 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/10/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30