Nhiều sức hút trên thị trường trái phiếu xanh

(TBTCO) - Sự tham gia của các tổ chức tài chính quốc tế và các quỹ đầu tư lớn vào các đợt phát hành trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững trong thời gian qua đã góp phần tạo nên sức hút đáng kể cho thị trường, phản ánh niềm tin ngày càng tăng vào triển vọng của trái phiếu xanh tại Việt Nam.
aa
Nhiều sức hút trên thị trường trái phiếu xanh
Tại Việt Nam, thị trường trái phiếu xanh dù chỉ mới hình thành song ghi nhận sự phát triển đáng khích lệ. Ảnh tư liệu minh họa

Trước thách thức của biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, Việt Nam và gần 150 quốc gia đã cam kết tại Hội nghị Công ước khung Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 26 (COP26) đưa mức phát thải ròng về “0” vào năm 2050. Đây là một cột mốc quan trọng, khẳng định trách nhiệm và vai trò của Việt Nam trong các nỗ lực toàn cầu, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu. Trong đó, tài chính xanh, đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp xanh, được xác định là công cụ hữu hiệu để huy động nguồn lực, hỗ trợ các dự án thân thiện với môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh và bền vững.

Hoàn thiện khung chính sách

Việt Nam được công nhận là một trong những quốc gia sớm thực hiện các cam kết về môi trường, đặc biệt trong việc thực hiện các hiệp định và thỏa thuận quốc tế liên quan đến bảo vệ môi trường.

Giá trị phát hành năm 2024 tăng gần 2 lần

Trong năm 2024, thị trường trái phiếu xanh, trái phiếu liên kết bền vững cũng chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ với tổng giá trị trái phiếu phát hành đạt khoản 10,3 nghìn tỷ đồng, tăng gần 1,9 lần so với năm 2023, phản ánh sự quan tâm ngày càng tăng từ các tổ chức phát hành và nhà đầu tư.

Đến nay, khung pháp lý về trái phiếu xanh về cơ bản đã được quy định đầy đủ, tạo tiền đề để Chính phủ, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu phục vụ cho tăng trưởng xanh bền vững. Luật Bảo vệ môi trường được ban hành và có hiệu lực từ ngày 1/1/2022 đã đặt nền tảng pháp lý cơ bản cho trái phiếu xanh. Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/1/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và các nghị định của Chính phủ về phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu doanh nghiệp đã quy định cụ thể việc phát hành trái phiếu xanh để huy động vốn cho các dự án xanh.

Ngày 17/11/2021, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 101/2021/TT-BTC quy định về giá dịch vụ trong lĩnh vực chứng khoán áp dụng tại Sở Giao dịch chứng khoán và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, theo đó giảm 50% giá dịch vụ đăng ký niêm yết, giá giao dịch và giá lưu ký đối với trái phiếu xanh, khuyến khích các tổ chức tham gia phát hành và đầu tư.

Hiện Bộ Tài chính đang xây dựng đề án phát hành thí điểm trái phiếu chính phủ xanh, tiếp tục khuyến khích các địa phương và doanh nghiệp phát hành trái phiếu xanh, tạo điều kiện đa dạng hóa sản phẩm tài chính xanh, theo đó tạo cơ sở để Việt Nam có thể khai thác tối đa nguồn lực từ thị trường trong nước và quốc tế để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Xu hướng "xanh hóa" lan tỏa trong cộng đồng doanh nghiệp

Trên thế giới, thị trường trái phiếu xanh đã và đang ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ. Theo tổ chức Sáng kiến Trái phiếu Khí hậu, tổng giá trị trái phiếu xanh, xã hội và bền vững (GSS) phát hành năm 2024 ước đạt 1,1 nghìn tỷ USD, tăng 12% so với năm 2023, phản ánh xu hướng gia tăng mạnh mẽ trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, hạ tầng bền vững và quản lý tài nguyên thiên nhiên.

Tại Việt Nam, thị trường trái phiếu xanh dù chỉ mới hình thành từ năm 2016 song ghi nhận sự phát triển đáng khích lệ. Các địa phương như TP. Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu tiên phong với việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương xanh nhằm tài trợ cho các dự án bảo vệ môi trường. Từ đó, các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các tổ chức tài chính, cũng mạnh dạn bước vào lĩnh vực này.

Tuy quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp bền vững của Việt Nam còn khiêm tốn so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia và Philippines với tỷ lệ ước tính lần lượt vào khoảng 5%, 10% và 20%, nhưng tốc độ tăng trưởng trong năm 2024 cho thấy tiềm năng to lớn của thị trường này.

Trong năm 2024, các ngân hàng thương mại gồm: BIDV, Vietcombank và HDBank tham gia phát hành trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững, với mục tiêu tài trợ cho các dự án bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững.

Đáng chú ý, thị trường lần đầu tiên ghi nhận sự tham gia của các lô trái phiếu xanh do doanh nghiệp phi tài chính phát hành như: Công ty Đầu tư và Phát triển Đa quốc gia I.D.I và Công ty TNHH Nước sạch Hòa Bình - Xuân Mai cũng đạt được những thành công đáng kể, lần lượt phát hành 1.000 tỷ đồng và 875 tỷ đồng để đầu tư vào các dự án phát triển bền vững trong nuôi trồng thủy sản và cung cấp nước sạch.

Các giao dịch này đều được cấu trúc theo nguyên tắc trái phiếu xanh của Hiệp hội Thị trường vốn Quốc tế (ICMA), được xác nhận độc lập trước và sau phát hành bởi các tổ chức uy tín quốc tế và trong nước, đảm bảo minh bạch và góp phần ngăn chặn tình trạng “rửa xanh”.

Các lô trái phiếu xanh phát hành bởi các tổ chức phát hành ở Việt Nam đến nay chủ yếu có kỳ hạn trên 5 năm và có thể đạt 20 năm, cao hơn so với trung bình của thị trường năm 2024 đạt gần 4,96 năm. Nổi bật gần đây có trái phiếu xanh kỳ hạn 20 năm của Công ty Nước sạch Hòa Bình - Xuân Mai là kỳ hạn dài nhất trong vòng hơn một thập kỷ qua, đáp ứng vốn dài hạn cho đầu tư hạ tầng. Lãi suất tương đối hợp lý và thấp hơn mặt bằng chung xét theo loại hình doanh nghiệp.

Sự chuyển dịch về cơ cấu phát hành trong thời gian qua, từ tập trung vào khối tài chính ngân hàng sang sự tham gia của các doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực khác như năng lượng tái tạo, thủy sản bền vững và cơ sở hạ tầng, phản ánh xu hướng "xanh hóa" đang lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Điều này cũng thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.

Qua quan sát, sự tham gia của các tổ chức tài chính quốc tế và các quỹ đầu tư lớn vào các đợt phát hành trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững trong thời gian qua cũng góp phần tạo nên sức hút đáng kể cho thị trường, phản ánh niềm tin ngày càng tăng vào triển vọng của trái phiếu xanh tại Việt Nam./.

Giải pháp phát triển bền vững thị trường trái phiếu xanh

Tuy có nhiều tiềm năng phát triển, thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Việc xây dựng khung pháp lý hoàn thiện, nâng cao nhận thức cộng đồng và thúc đẩy hợp tác quốc tế sẽ là những yếu tố then chốt đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam.

Trong đó, việc hoàn thiện khung pháp lý là ưu tiên hàng đầu. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang trình Thủ tướng Chính phủ xem xét ban hành quyết định về tiêu chí môi trường và việc xác nhận đối với dự án đầu tư được cấp tín dụng xanh, phát hành trái phiếu xanh, từ đó, doanh nghiệp có thể hưởng ưu đãi của Nhà nước khi phát hành và đầu tư trái phiếu xanh cũng như tránh tình trạng "tẩy xanh" dự án.

Đồng thời, danh mục phân loại xanh cũng hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước phối hợp để quản lý, giám sát thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đảm bảo thị trường hoạt động lành mạnh, hiệu quả và góp phần cho sự phát triển của nền tài chính xanh.

Đây cũng được coi là một trong các yếu tố then chốt để thu hút thêm nhiều nhà đầu tư tham gia vào thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam. Song song với việc hoàn thiện khung khổ pháp lý, cần có cơ chế giám sát chặt chẽ nhằm ngăn chặn tình trạng “tẩy xanh” và đảm bảo tính minh bạch trong quá trình phát hành và sử dụng vốn.

Nâng cao nhận thức cũng là một trong những giải pháp quan trọng. Bộ Tài chính và các tổ chức vận hành thị trường sẽ tiếp tục triển khai các chương trình đào tạo, hội thảo chuyên đề nhằm cung cấp kiến thức về trái phiếu xanh cho doanh nghiệp và nhà đầu tư. Đồng thời, cần tăng cường năng lực cho các tổ chức đánh giá và tư vấn độc lập để hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc chuẩn bị và phát hành trái phiếu xanh./. Ánh Tuyết

Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính (Bộ Tài chính)

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80