PG Bank đứng trước những gian nan...

Thùy Vân
Có thể nói PG Bank là điểm hội tụ những rủi ro điển hình trong hoạt động ngân hàng thời gian qua.
aa

pg bank

Mùa báo cáo kết quả kinh doanh 2013 của các ngân hàng thương mại đang đi đến đoạn cuối. Bản báo cáo tài chính của Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex (PG Bank) hiện chưa công bố và cũng là thành viên đáng chờ đợi nhất, vì nó phản ánh những rủi ro điển hình mà nhiều ngân hàng khác cũng gặp phải trong thời gian qua.

Từng là “bé hạt tiêu”

Khó khăn vẫn không ngừng đeo bám PG Bank những năm gần đây. Những năm 2010 - 2011, đây là thành viên nhỏ nhất trong hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam, xét theo quy mô vốn điều lệ. Và phải đến cuối 2011 ngân hàng này mới có thể xoay xở được yêu cầu tăng vốn, đảm bảo mức vốn pháp định tối thiểu 3.000 tỷ đồng.

Không hẳn do PG Bank yếu kém và khó khăn trong gọi vốn đầu tư, hay các cổ đông lớn tiềm lực tài chính yếu, mà do trở ngại của chủ trương hạn chế đầu tư ngoài ngành cùng yêu cầu thoái vốn liên quan. Trở ngại này gắn với cổ đông lớn, đang nắm 40% cổ phần là Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex). Petrolimex khó đổ thêm vốn ngoài ngành đã đành, mà phía trước còn là yêu cầu thoái vốn với thời hạn đến 2015.

Từng là nhỏ nhất và hiện cũng ở nhóm nhỏ nhất trong hệ thống, nhưng PG Bank lại là “bé hạt tiêu”, là thành viên tạo hiện tượng lớn, rất lớn ngay ở thời điểm tưởng như khó khăn nhất về vốn.

Năm 2011, khi cả hệ thống chông chênh với khó khăn thanh khoản, nhiều ngân hàng nhỏ và gặp khó khăn gồng mình chống chọi với áp lực của “ngân hàng nhóm 4” và tin đồn tái cơ cấu liên quan… Chính trong bối cảnh đó, PG Bank thu hút ánh nhìn của thị trường, ấn tượng với mức lãi khủng và hiệu quả hoạt động vượt trội.

Cụ thể, năm 2011, ngân hàng này công bố lợi nhuận trước thuế đạt tới 608 tỷ đồng, hơn gấp đôi mức đạt được của năm 2010 (293 tỷ đồng). Đó là kết quả “mơ ước” của ngay những thành viên quy mô vốn điều lệ cỡ 4.000 - 5.000 tỷ đồng, trong khi PG Bank lúc đó chỉ 2.000 tỷ đồng. Chính vì vậy, đây là thành viên liên tục ở trong Top 5 ngân hàng thương mại hiệu quả nhất xét theo các chỉ số tài chính cơ bản như tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA). Như trong năm 2011, ROE đạt tới 23%, ROA đạt 2,7%.

Nhưng rủi ro cũng đến với PG Bank một cách nhanh chóng, và dường như lớn hơn so với nhiều ngân hàng khác…

“Ông lớn” gây đột biến nợ xấu

Cũng chính trong năm 2011, nợ xấu của PG Bank bắt đầu có xu hướng gia tăng mạnh, dù vẫn ở gần mức chấp nhận được quanh 3%. Đến 2012, tốc độ gia tăng nợ xấu tại ngân hàng này diễn ra một cách hoảng hốt, khi vọt lên tới 8,4%.

Năm 2013, PG Bank đặt mục tiêu giảm được nợ xấu và rút được tỷ lệ về khoảng 3%. Nhưng mục tiêu đó vẫn trở nên quá xa, nợ xấu vẫn tiếp tục gia tăng trong năm qua. Đến cuối quý 3/2013, mức ghi nhận trên báo cáo tài chính đã là 9,5% - mức cao nhất theo báo cáo trong khối ngân hàng thương mại cổ phần.

Con số nợ xấu cuối cùng của PG Bank chốt năm 2013 hiện vẫn là ẩn số, nhưng một khi đã gia tăng đột biến như trên, lại gắn với sức đề kháng hạn chế của một ngân hàng quy mô nhỏ, khó khăn hiện là rất lớn. Mặc dù trong đợt đầu Công ty quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) mua lại nợ xấu, PG Bank tạm “gửi” đi 170 tỷ đồng, nhưng kể cả như vậy dự báo cũng khó có thể cải thiện được nhanh.

Vì sao nợ xấu của PG Bank tăng đột biến? Trước hết, nó có nguồn gốc từ trong năm 2012, gắn với những “ông lớn”. Cụ thể, từ tháng 10/2012, một số khách hàng lớn của chi nhánh PG Bank Thăng Long rơi vào khó khăn, không trả được nợ làm đội nhanh nợ nhóm 3. Đến 2013, tình hình ở nhóm này vẫn chưa xử lý được và vẫn là nguyên nhân chính.

PG Bank cũng gặp rủi ro điển hình như ở hầu hết các ngân hàng khác. Dù tỷ lệ cho vay đầu tư bất động sản của họ rất thấp, nhưng thị trường bất động sản rơi vào suy giảm và đóng băng, khiến hoạt động cho vay các khách hàng liên quan như xây dựng, sản xuất nguyên vật liệu đầu vào… gặp rủi ro.

Theo lý giải của PG Bank, họ cũng gặp phải tình trạng chung ở nhiều khách hàng vay vốn là việc sử dụng vốn. Cụ thể, nhiều doanh nghiệp vay vốn đã dự báo không tốt xu hướng và nhu cầu thị trường, dẫn tới đầu tư quá mức và dư thừa công suất, hàng tồn kho lớn… Thậm chí có những khách hàng mất cân đối khi sử dụng vốn vay, dùng vốn vay ngắn hạn đầu tư trung dài hạn để rồi thiếu nguồn trả nợ. Hay có những khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, vay vốn đổ vào bất động sản rồi kẹt lại.

PG Bank cũng từng giải thích với các cổ đông rằng, việc kiểm soát sau cho vay của một số đơn vị chưa tốt, công tác quản lý hàng tồn kho thế chấp chưa chặt chẽ. Thế nên, PG Bank cũng là cái tên xuất hiện trong một số vụ việc tranh chấp tài sản thế chấp năm qua, hoặc gặp rủi ro khách hàng rút ruột tài sản thế chấp…

Tỷ lệ nợ xấu quá cao đã phản ánh rõ ở kết quả lợi nhuận của ngân hàng từng là “bé hạt tiêu” trong năm 2011. Lợi nhuận cập nhật qua các quỹ gần đây cho thấy nỗ lực tránh lỗ.

Và như trên, với quy mô nhỏ, tiềm lực tài chính còn hạn chế, sức vượt qua khó khăn của PG Bank là hạn chế hơn khi gánh trên mình mức nợ xấu lớn như vậy. Liệu họ có phải tái cơ cấu bắt buộc hay không, hay sẽ khắc phục khó khăn như thế nào, khi mà phía trước áp lực thoái vốn ngoài ngành năm 2015 đã gần kề và chỗ dựa rất lớn từ Tập đoàn Petrolimex theo đó có thể không còn được như trước?

Thùy Vân

Thùy Vân

Đọc thêm

VietinBank ghi dấu ấn quốc tế với hai giải thưởng ngân hàng doanh nghiệp

VietinBank ghi dấu ấn quốc tế với hai giải thưởng ngân hàng doanh nghiệp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế khi đồng thời được vinh danh tại hai giải thưởng quốc tế quan trọng: “Ngân hàng dành cho Khách hàng doanh nghiệp tốt nhất Việt Nam” và “Nền tảng số dành cho đơn vị chấp nhận thanh toán tốt nhất Việt Nam” trong khuôn khổ International Finance Awards 2025.
Bảo hiểm PTI hạ mục tiêu lợi nhuận, "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%

Bảo hiểm PTI hạ mục tiêu lợi nhuận, "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%

Bảo hiểm PTI dự kiến trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch kinh doanh năm 2026 với doanh thu bảo hiểm 4.139 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 320 tỷ đồng, giảm 14,2%. Doanh nghiệp tiếp tục định hướng tăng trưởng thận trọng, tối ưu hiệu quả. Đồng thời, PTI dự kiến phát hành cổ phiếu tăng vốn theo tỷ lệ 2:1 và "để ngỏ" phương án chia cổ tức tiền mặt 10%.
Vững đà tăng trưởng, VietCredit tiếp tục mở rộng mảng vay tiêu dùng cá nhân

Vững đà tăng trưởng, VietCredit tiếp tục mở rộng mảng vay tiêu dùng cá nhân

(TBTCO) - Trong bối cảnh nhu cầu tài chính cá nhân gia tăng và hành vi người dùng dịch chuyển mạnh sang môi trường số, VietCredit đẩy mạnh hệ sinh thái Tin Vay - giải pháp vay tiêu dùng cá nhân tích giúp người Việt tiếp cận khoản vay nhanh chóng và thuận tiện.
Manulife Việt Nam chi trả hơn 9.000 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng trong năm 2025

Manulife Việt Nam chi trả hơn 9.000 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng trong năm 2025

(TBTCO) - Manulife Việt Nam vừa công bố báo cáo tài chính năm 2025 với kết quả kinh doanh tích cực, tiếp tục khẳng định định hướng lấy khách hàng làm trọng tâm trong hoạt động vận hành và phát triển sản phẩm và dịch vụ.
Những 'mảnh ghép' nào định hình câu chuyện tăng trưởng VPBankS năm 2026

Những 'mảnh ghép' nào định hình câu chuyện tăng trưởng VPBankS năm 2026

(TBTCO) - Với mục tiêu lợi nhuận trước thuế hơn 6.450 tỷ đồng năm 2026, VPBankS đang bước vào giai đoạn tăng tốc mới, nơi các cấu phần kinh doanh cốt lõi được định vị rõ ràng hơn. Trong bối cảnh đó, việc thị trường chứng khoán Việt Nam vừa chính thức được nâng hạng kỳ vọng sẽ trở thành “lực đẩy” quan trọng.
Tỷ giá USD hôm nay (8/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, USD suy yếu sau thông tin Mỹ - Iran đàm phán ngừng bắn

Tỷ giá USD hôm nay (8/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, USD suy yếu sau thông tin Mỹ - Iran đàm phán ngừng bắn

(TBTCO) - Sáng ngày 8/4, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.106 VND/USD; tỷ giá ngân hàng dao động trong biên độ 23.850,7 - 26.361,3 VND/USD, còn thị trường tự do đi ngang. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm 0,88% xuống 98,98 điểm, mất mốc quan trọng 100 điểm sau khi thông tin Mỹ - Iran đàm phán ngừng bắn.
SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

SHB nâng cao nền tảng vốn, tạo đà kế hoạch kinh doanh bứt phá năm 2026

(TBTCO) - Trong lộ trình tăng tốc năm 2026, SHB đang đồng thời triển khai hai trụ cột quan trọng: nâng cao nền tảng vốn, nâng chuẩn quản trị theo thông lệ quốc tế; song song với đó là thúc đẩy kế hoạch kinh doanh bứt phá trên nền tảng chuyển đổi mạnh mẽ, toàn diện và định hướng phát triển bám sát các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. Đây là bước đi quan trọng để Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng cơ hội tiếp cận dòng vốn quốc tế và tiếp tục gia tăng giá trị bền vững cho cổ đông.
Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 8/4: Giá vàng trong nước lùi về vùng 169 - 172,5 triệu đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 8/4, giá vàng trong nước tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch vàng miếng và vàng nhẫn lùi về quanh vùng 169 - 172,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 ▲150K 17,500 ▲250K
Kim TT/AVPL 17,110 ▲170K 17,510 ▲260K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,080 ▲150K 17,480 ▲240K
Nguyên Liệu 99.99 15,890 ▲390K 16,090 ▲390K
Nguyên Liệu 99.9 15,840 ▲390K 16,040 ▲390K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,860 ▲240K 17,260 ▲240K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,810 ▲240K 17,210 ▲240K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,740 ▲240K 17,190 ▲240K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,000 ▲2000K 174,500 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 ▲150K 17,500 ▲250K
Miếng SJC Nghệ An 17,100 ▲150K 17,500 ▲250K
Miếng SJC Thái Bình 17,100 ▲150K 17,500 ▲250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 ▲200K 17,400 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 ▲200K 17,400 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 ▲200K 17,400 ▲200K
NL 99.90 15,620 ▲120K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,650 ▲120K
Trang sức 99.9 16,590 ▲200K 17,290 ▲200K
Trang sức 99.99 16,600 ▲200K 17,300 ▲200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 171 ▼1524K 17,502 ▲250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 171 ▼1524K 17,503 ▲250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,705 ▲1536K 1,745 ▲1573K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,705 ▲1536K 1,746 ▲25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,685 ▲1518K 173 ▼1532K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,787 ▲2475K 171,287 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,013 ▲1875K 129,913 ▲1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,902 ▲1700K 117,802 ▲1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,791 ▲1526K 105,691 ▲1526K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,119 ▲1458K 101,019 ▲1458K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,398 ▲1042K 72,298 ▲1042K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▼1524K 175 ▼1550K
Cập nhật: 08/04/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17992 18266 18839
CAD 18448 18725 19343
CHF 32718 33103 33747
CNY 0 3800 3870
EUR 30121 30395 31423
GBP 34550 34942 35876
HKD 0 3231 3433
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15004 15594
SGD 20109 20392 20909
THB 737 800 855
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26157 26361
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,141 26,141 26,361
USD(1-2-5) 25,096 - -
USD(10-20) 25,096 - -
EUR 30,391 30,415 31,672
JPY 162.51 162.8 171.58
GBP 34,854 34,948 35,934
AUD 18,350 18,416 18,998
CAD 18,724 18,784 19,358
CHF 33,123 33,226 33,987
SGD 20,314 20,377 21,056
CNY - 3,795 3,916
HKD 3,304 3,314 3,432
KRW 16.55 17.26 18.66
THB 786.48 796.19 847.21
NZD 15,102 15,242 15,599
SEK - 2,799 2,880
DKK - 4,067 4,184
NOK - 2,710 2,794
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,206.3 - 6,966.87
TWD 751.33 - 904.58
SAR - 6,915.29 7,238.87
KWD - 83,845 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,141 26,361
EUR 30,167 30,288 31,468
GBP 34,634 34,773 35,777
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,701 32,832 33,759
JPY 162.18 162.83 170.17
AUD 18,226 18,299 18,889
SGD 20,274 20,355 20,937
THB 799 802 838
CAD 18,668 18,743 19,308
NZD 14,997 15,526
KRW 17.06 18.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26361
AUD 18184 18284 19207
CAD 18636 18736 19751
CHF 32977 33007 34590
CNY 3795.5 3820.5 3956.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30310 30340 32065
GBP 34849 34899 36663
HKD 0 3355 0
JPY 162.67 163.17 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15122 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20272 20402 21125
THB 0 767.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17500000
SBJ 15000000 15000000 17500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,361
USD20 26,155 26,205 26,361
USD1 26,155 26,205 26,361
AUD 18,296 18,396 19,502
EUR 30,469 30,469 31,877
CAD 18,614 18,714 20,019
SGD 20,355 20,505 21,450
JPY 163.27 164.77 169.31
GBP 34,739 35,089 36,220
XAU 17,198,000 0 17,552,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 802 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/04/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80