Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa: Vẫn còn nhiều khó khăn, trở ngại trong hoạt động thực tế

Chí Tín
(TBTCO) - Sau 4 năm triển khai Quỹ bảo lãnh tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định 34/2018/NĐ-CP, nhiều khó khăn trở ngại xuất hiện trong thực tế. Tuy nhiên, nhiều giải pháp mới đã được các chuyên gia để xuất, kỳ vọng sẽ giúp cho quỹ hoạt động hiệu quả hơn trong thời gian tới.
aa

Quỹ bảo lãnh tín dụng đã phát huy vai trò

Quỹ bảo lãnh tín dụng (BLTD) dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) được hiện theo Nghị định 34/2018/NĐ-CP (Nghị định 34). Văn bản này quy định việc thành lập, tổ chức và hoạt động của quỹ BLTD tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để cấp bảo lãnh tín dụng cho các DNNVV vay vốn tại các tổ chức cho vay theo quy định tại nghị định này.

Ông Nguyễn Việt Hưng - Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính Ngân hàng thuộc Bộ Tài chính cho biết, Nghị định 34 và các thông tư hướng dẫn sau 4 năm triển khai đã tạo nguồn vốn vay để phát triển các DNNVV, góp phần tích cực đồng bộ hóa hệ thống chính sách tài chính ngân hàng, đóng góp sự phát triển kinh tế đất nước.

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa nếu không có tài sản thế chấp sẽ khó khăn tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa nếu không có tài sản thế chấp sẽ khó khăn tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng. Ảnh: TL

Theo quy định tại Nghị định 34, quỹ BLTD có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có báo cáo tài chính riêng, có con dấu, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại. Quỹ hoạt động theo mô hình công ty TNHH một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ theo quy định tại nghị định này và pháp luật liên quan khi không quy định tại nghị định này.

Ông Daniel Fitzpatrick - Giám đốc Văn phòng Dự án thúc đẩy cải cách và nâng cao năng lực kết nối DNNVV (USAID LinkSME) cho biết, các DNNVV thường gặp khó khăn về tài chính. Trong khi đó, các ngân hàng lại thường không mặn mà với đối tượng này do khoản vay thường nhỏ, mà khối lượng công việc quá cao so với quy mô khoản vay. Đặc biệt, các DNNVV cần vay vốn, nhưng không có tài sản thế chấp thì việc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng lại các khó khăn hơn. Để giải quyết vấn đề này, một số DNVVN nhờ bên thứ ba bảo lãnh khoản vay và theo đó, việc ra đời và hoạt động của các quỹ BLTD có ý nghĩa quan trọng để hỗ trợ các DNNVV có thể tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn để phục vụ nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đối diện khó khăn, nhưng sẽ có giải pháp khắc phục

Thực tế hoạt động của các quỹ BLTD thời gian qua cho thấy, cũng có không ít những khó khăn, vướng mắc nảy sinh. Một số địa phương thậm chí cũng không mặn mà với việc thực hiện quyền và trách nhiệm trong phát triển và duy trì hoạt động của quỹ, có những địa phương sau khi thành lập quỹ một thời gian lại giải thể do không duy trì được hoạt động. Số lượng quỹ từ năm 2018 đến nay thậm chí có xu hướng giảm ít đi, cụ thể trong năm 2018 và 2019 cả nước có 27 quỹ BLTD hoạt động. Tuy nhiên, Quỹ BLTD Đà Nẵng giải thể vào năm 2020, nên chỉ còn 26 quỹ và tiếp tục giảm xuống còn 25 quỹ vào năm 2021. Trong năm 2021, Quỹ BLTD Đắk Lắk được thành lập thêm, nhưng lại có 2 quỹ bị giải thể là Quỹ BLTD tỉnh Quảng Nam và Quỹ BLTD tỉnh Phú Yên. Số lượng 25 quỹ tiếp tục được duy trì cho đến năm 2022.

Một trong những vấn đề nổi lên trong quá trình triển khai thời gian qua là ở một số địa phương không có tiêu chí rõ ràng để bảo lãnh cho doanh nghiệp. Trong khi đó, lãnh đạo của nhiều địa phương cũng tỏ ra chưa thực sự quan tâm đến hoạt động và vai trò của quỹ, những người liên quan thậm chí chưa đọc kỹ Nghị định 34, chưa hiểu rõ các nội dung của nghị định, nên chưa thực hiện đầy đủ nhiệm vụ mà Chính phủ giao và phân cấp.

Thông tư số 15/2019/TT-BTC hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thông tư số 57/2019/TT-BTC hướng dẫn cơ chế xử lý rủi ro của quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thông tư số 45/2018/TT-NHNN hướng dẫn các tổ chức tín dụng trong cho vay có bảo lãnh của quỹ bảo lãnh tín dụng theo quy định tại Nghị định số 34/2018/NĐ-CP. Thông tư số 04/2019/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thông tư số 209/2015/TT-BTC hướng dẫn kế toán áp dụng đối với quỹ đầu tư địa phương địa phương.

Ngay cả việc cấp vốn cho quỹ, mặc dù Nghị định 34 và các văn bản hướng dẫn đã yêu cầu khá cụ thể về việc nguồn vốn cho quỹ chủ yếu là hỗ trợ từ ngân sách địa phương (cấp vốn điều lệ ban đầu, cấp bổ sung vốn điều lệ). Tuy nhiên, tính đến 31/12/2021, mới chỉ có 10 quỹ BLTD có vốn điều lệ tối thiểu đạt 100 tỷ đồng, một số quỹ BLTD khác có vốn điều lệ chỉ từ 4 - 80 tỷ đồng, riêng Quỹ BLTD Đồng Nai có vốn điều lệ thực có thấp nhất là 4 tỷ đồng.

Khó khăn là vậy, nhưng thời gian qua một số chuyên gia cũng đưa ra những đề xuất, tham mưu để thúc đẩy cho quỹ BLTD có thể hoạt động hiệu quả hơn, TS. Phạm Phan Dũng - chuyên gia tư vấn Dự án USAID LinkSME cho biết, thời gian tới Chính phủ nên giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư (hoặc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) xây dựng hệ số tín nhiệm của các DNNVV, tạo điều kiện để các quỹ BLTD khai thác cơ sở dữ liệu, phục vụ hoạt động BLTD.

Hiện nay, các ngân hàng thương mại đã có hệ thống thẩm định tín dụng có thể đánh giá mức độ tín nhiệm của các DNNVV mà quỹ có thể bảo lãnh. Theo đó, ông Dũng cho rằng, Ngân hàng Nhà nước nên chỉ đạo các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm của các ngân hàng thương mại phối hợp với các quỹ BLTD để vừa khai thác tốt cơ sở dữ liệu của các DNVVN, vừa tiết kiệm chi phí, vừa tránh được sự chồng chéo đối với việc thẩm định khoản vay giữa quỹ BLTD và các ngân hàng.

Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng cho rằng, các địa phương cũng cần quan tâm bố trí trong dự toán ngân sách để cấp đủ vốn cho quỹ BLTD; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện và quản lý quỹ BLTD, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Chí Tín

Đọc thêm

Doanh nghiệp và địa phương "bắt nhịp" đưa bảo hiểm nông nghiệp vào mùa vụ mới

Doanh nghiệp và địa phương "bắt nhịp" đưa bảo hiểm nông nghiệp vào mùa vụ mới

(TBTCO) - Dư địa phát triển bảo hiểm nông nghiệp được mở rộng khi Nghị định số 346/2026/NĐ-CP trao thêm quyền chủ động, linh hoạt hơn cho doanh nghiệp và địa phương. Để chính sách sớm phát huy hiệu quả, việc địa phương sớm ban hành danh mục hỗ trợ, doanh nghiệp năng động triển khai, bảo vệ sinh kế người dân trước rủi ro ngay từ những vụ sản xuất tới.
Tập đoàn Bảo Việt (BVH) đạt gần 48.000 tỷ đồng doanh thu 9 tháng đầu năm

Tập đoàn Bảo Việt (BVH) đạt gần 48.000 tỷ đồng doanh thu 9 tháng đầu năm

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt công bố kết quả kinh doanh quý III năm 2026 (trước soát xét), theo đó công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất 9 tháng đạt 47.928 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Bảo hiểm PTI lãi 245 tỷ đồng sau 9 tháng, lợi nhuận gộp hoạt động tài chính tăng gần 65%

Bảo hiểm PTI lãi 245 tỷ đồng sau 9 tháng, lợi nhuận gộp hoạt động tài chính tăng gần 65%

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, PTI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 245 tỷ đồng, trong đó lợi nhuận từ hoạt động tài chính tăng gần 65%, trở thành "điểm sáng". Doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.238,7 tỷ đồng, duy trì đà tăng 16,7% sau quá trình tái cơ cấu danh mục bảo hiểm nhiều năm.
VBI – HMFI: 8 năm hợp tác chiến lược, hướng tới tăng trưởng bền vững

VBI – HMFI: 8 năm hợp tác chiến lược, hướng tới tăng trưởng bền vững

(TBTCO) - Ngày 27-28/10, Bảo hiểm VietinBank - VBI và Hyundai Marine & Fire Insurance (HMFI) tổ chức sự kiện hội nghị thường niên, đánh dấu năm thứ 8 trong quan hệ hợp tác chiến lược. Sự kiện tạo cơ hội để VBI kết nối kinh nghiệm quốc tế, cập nhật các xu hướng về phát triển sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và ứng dụng công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường và duy trì tăng trưởng bền vững.
Bảo hiểm nông nghiệp: Cần chuyển mạnh từ 'hỗ trợ khắc phục hậu quả sau rủi ro' sang 'quản trị rủi ro chủ động'

Bảo hiểm nông nghiệp: Cần chuyển mạnh từ 'hỗ trợ khắc phục hậu quả sau rủi ro' sang 'quản trị rủi ro chủ động'

(TBTCO) - Sáng 30/10, tại TP. Cần Thơ, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND TP. Cần Thơ và Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tổ chức Hội nghị phổ biến Nghị định số 346/2026/NĐ-CP ngày 5/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp.
Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

(TBTCO) - Sáng 30/10, tỷ giá trung tâm giảm 7 đồng, còn 25.637 đồng; USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,23%, về 101,64 điểm. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu tăng lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương lớn, dù lạm phát Mỹ lên 3,6% trong tháng 9, củng cố kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt tiền tệ.
Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm còn 4.021 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng đứng giá, còn vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

(TBTCO) - Phản hồi vấn đề của Bảo Tín Minh Châu đặt ra, Ngân hàng Nhà nước nêu rõ ngưỡng 5 triệu đồng được tính trên tổng giá trị mua, bán vàng trong ngày của một khách hàng. Trường hợp cố ý chia nhỏ giao dịch hoặc các đợt thanh toán nhằm né tránh quy định về thanh toán không dùng tiền mặt sẽ bị xem xét, xử lý.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
Hà Nội - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
Đà Nẵng - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
Miền Tây - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
Tây Nguyên - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,600 ▼240K 13,900 ▼240K
Miếng SJC Nghệ An 13,600 ▼240K 13,900 ▼240K
Miếng SJC Thái Bình 13,600 ▼240K 13,900 ▼240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,400 ▼220K 13,800 ▼220K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,400 ▼220K 13,800 ▼220K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,400 ▼220K 13,800 ▼220K
Trang sức 99.9 13,080 ▼220K 13,680 ▼220K
Trang sức 99.99 13,090 ▼220K 13,690 ▼220K
Vàng 99.9 12,550 ▼300K
Vàng 99.99 12,700 ▼340K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 136 ▼1248K 13,902 ▼240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 136 ▼1248K 13,903 ▼240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,318 ▼25K 1,358 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,318 ▼25K 1,359 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,298 ▼25K 1,348 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 126,465 ▼2476K 133,465 ▼2476K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,146 ▼84189K 10,126 ▼93009K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,023 ▼1700K 91,823 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 72,586 ▼1525K 82,386 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 68,946 ▼1458K 78,746 ▼1458K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,567 ▲41806K 56,367 ▲50626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Cập nhật: 31/10/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17606 17879 18468
CAD 17934 18209 18825
CHF 30632 31008 31646
CNY 0 3835 3931
EUR 28164 28379 29467
GBP 33752 34141 35078
HKD 0 3158 3361
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14212 14810
SGD 19642 19923 20507
THB 680 743 796
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25600 26000
AUD 17782 17882 18812
CAD 18132 18232 19245
CHF 31001 31031 32620
CNY 3817.4 3842.4 3977.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28447 28477 30200
GBP 34145 34195 35953
HKD 0 3300 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19820 19950 20671
THB 0 710.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13840000 13840000 14140000
SBJ 12500000 12500000 14140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/10/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30