Quý IV/2019: Lãi suất sẽ tăng hay giảm?

Thanh An
(TBTCVN) - Nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) bước vào đợt tăng lãi suất huy động mới với mức tăng rất khác biệt. Trong khi đó, lãi suất cho vay và lãi suất trên thị trường liên ngân hàng khá ổn định.
aa

nh

Lãi suất tiền gửi tiết kiệm online kỳ hạn 6 tháng ở mức 8,03%/năm của SCB được coi là rất cao so mặt bằng chung.

Điều này cho thấy các ngân hàng cần bổ sung nguồn vốn cho vụ mùa cuối năm dù thanh khoản của hệ thống vẫn ổn định. Tuy nhiên, xu hướng lãi suất từ nay đến cuối năm vẫn khó dự đoán.

Cần vốn cho mùa vụ cuối năm

Lãi suất tiền gửi tiết kiệm online kỳ hạn 6 tháng ở mức 8,03%/năm của Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) công bố và áp dụng cho khách hàng từ ngày 14/9/2019 được coi là rất cao trong so sánh với trần lãi suất 5,5%/năm với các kỳ hạn dưới 6 tháng theo quy định hiện hành. Bên cạnh đó, ngân hàng này còn áp dụng lãi suất tiền gửi tiết kiệm ở mức cao nhất lên đến 8,76%/năm. Trong khi đó, cùng loại tiền gửi tiết kiệm online kỳ hạn 6 tháng nhưng lãi suất huy động của nhiều ngân hàng khác ở mức thấp hơn, từ 6,5 - 7,7%/năm.

“Biến động lãi suất huy động đợt này không phản ánh tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng, bởi vì nhiều ngân hàng lớn vẫn giữ lãi suất huy động ở mức ổn định, lãi suất liên ngân hàng trong thời gian gần đây không những không tăng mà còn giảm. Với một số ngân hàng, việc tăng lãi suất này có thể để cơ cấu lại nguồn vốn hoặc bổ sung nguồn vốn ngắn hạn và chuẩn bị cho vụ mùa cho vay vào cuối năm”.

TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng BIDV

Theo quy định, các NHTM vẫn bị khống chế trần lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn dưới 6 tháng là 5,5%/năm. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên được thả nổi.

Bình luận về động thái tăng lãi suất huy động như nêu trên, TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng BIDV cho rằng, hiện tượng này chỉ xảy ra cục bộ, mang tính thời điểm ở một vài ngân hàng có quy mô nhỏ và trung bình. Các ngân hàng đó có tính cạnh tranh huy động thấp hơn các ngân hàng quy mô lớn cũng có phần bởi thói quen, văn hóa gửi tiền của nhiều người dân, đó là, ưu tiên chọn ngân hàng lớn dù lãi suất huy động có thể thấp hơn.

Theo ông Lực, biến động lãi suất huy động đợt này không phản ánh tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng, bởi vì nhiều ngân hàng lớn vẫn giữ lãi suất huy động ở mức ổn định, lãi suất liên ngân hàng trong thời gian gần đây không những không tăng mà còn giảm. “Với một số ngân hàng, việc tăng lãi suất này có thể để cơ cấu lại nguồn vốn hoặc bổ sung nguồn vốn ngắn hạn và chuẩn bị cho vụ mùa cho vay vào cuối năm” - ông Lực nói.

Từ góc nhìn khác, TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia ngân hàng cho rằng, hiện tượng huy động kỳ hạn 6 tháng ở mức trên 8% là khá bất thường, đặc biệt trong so sánh với trần lãi suất giới hạn ở mức 5,5% với kỳ hạn dưới 6 tháng.

Ông Hiếu cho rằng, có thể, các ngân hàng muốn đẩy mạnh tỷ lệ tăng trưởng tín dụng từ nay đến cuối năm để tạo điều kiện được cấp tỷ lệ tăng trưởng tín dụng ở mức cao hơn trong năm sau. Cũng có thể, ngân hàng rơi vào tình trạng yếu thanh khoản nên cần hút vốn huy động. Bên cạnh đó, nhiều khả năng các ngân hàng dự báo mức tăng trưởng tín dụng trong những tháng còn lại sẽ cao nên dự trữ nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu trong thời gian tới.

“Ngoài ra, không loại trừ trường hợp các ngân hàng thiếu thanh khoản do tình trạng nợ xấu vẫn ở mức cao, họ cần huy động vốn để trả nợ cũ” - ông Hiếu nói.

Có thể còn tăng tiếp

Từ đầu năm đến nay, lãi suất huy động đã có nhiều đợt tăng dù mức tăng không đột biết. Những tháng cuối năm được cho là giai đoạn “về đích” doanh thu và lợi nhuận của các tổ chức tín dụng, do đó, xu hướng lãi suất của quý IV được dự báo có thể tăng tiếp.

Theo ông Cấn Văn Lực, có thể có những đợt sóng tăng lãi suất huy động nhưng mức tăng nhẹ, vì về cơ bản, thanh khoản của các ngân hàng tốt, hiện tượng tăng lãi suất sẽ chỉ diễn ra ở một vài ngân hàng nhỏ, trong khi lãi suất cho vay có thể được kiềm giữ theo chủ trương của Chính phủ.

Trong khi đó, ông Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, lãi suất huy động các kỳ hạn ngắn, trung và dài hạn nhiều khả năng sẽ tăng. “Thực tế là, nhiều ngân hàng cần vốn ngắn hạn cho mùa vụ cuối năm. Mặt khác, nhiều ngân hàng vẫn cần vốn trung và dài hạn để đáp ứng yêu cầu về giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng Nhà nước, dự kiến tỷ lệ này sẽ còn tiếp tục giảm trong thời gian tới. Do đó, lãi suất huy động ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhiều khả năng sẽ còn tăng tiếp trong thời gian tới” - ông Hiếu nói.

Về lãi suất cho vay, ông Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, động thái giảm lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước sẽ không tác động nhiều đến lãi suất cho vay của các NHTM. Bởi vì, lãi suất điều hành chỉ tác động trên thị trường liên ngân hàng mà thị trường đó không liên thông với thị trường tiền tệ cho vay. Mặt khác, các động thái chính sách như vậy thường có độ trễ nên tác động gián tiếp về mặt nào đó cũng sẽ rất ít.

“Nhiều ngân hàng cần vốn ngắn hạn cho mùa vụ cuối năm. Mặt khác, nhiều ngân hàng vẫn cần vốn trung và dài hạn để đáp ứng yêu cầu về giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng Nhà nước, dự kiến tỷ lệ này sẽ còn tiếp tục giảm trong thời gian tới. Do đó, lãi suất huy động ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhiều khả năng sẽ còn tăng tiếp trong thời gian tới”.

TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia ngân hàng

Thanh An

Thanh An

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 05:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80