Quyền lợi bảo hiểm y tế ngày càng mở rộng

Hà My
(TBTCO) - Cùng với sự hoàn thiện của chính sách, diện bao phủ bảo hiểm y tế tăng nhanh; người dân được hưởng lợi nhiều hơn khi đi khám chữa bệnh.
aa

Mở rộng cả độ bao phủ và quyền lợi

Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 6 tháng đầu năm 2025, trong bối cảnh đối mặt với nhiều khó khăn, công tác phát triển người tham gia tiếp tục có sự tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, diện bao phủ bảo hiểm y tế (BHYT) cơ bản hoàn thành theo lộ trình tại các nghị quyết, văn bản của Trung ương, Quốc hội và Chính phủ đã đề ra.

Quyền lợi bảo hiểm y tế ngày càng mở rộng
Quyền lợi bảo hiểm y tế ngày càng mở rộng. Ảnh: Huyền Trang

Năm 2002, thời điểm khi Bảo hiểm xã hội Việt Nam được giao tổ chức, thực hiện đồng thời cả chính sách bảo hiểm xã hội, BHYT, cả nước chỉ có khoảng 13,03 triệu người tham gia BHYT.

Chính sách BHYT chính thức triển khai ở nước ta từ năm 1992 và được quy định cụ thể thành Luật BHYT ban hành năm 2008. Qua các lần sửa đổi, bổ sung năm 2014, năm 2024, chính sách BHYT ngày càng hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và quyền lợi của người tham gia.

Sau hơn 20 năm trực tiếp tổ chức, thực hiện chính sách BHYT, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã nỗ lực, kiên trì triển khai nhiều giải pháp để tăng tỷ lệ người dân được thụ hưởng chính sách BHYT nhân văn, ưu việt của Đảng và Nhà nước ta.

Tính đến hết tháng 6/2025, cả nước có hơn 91,25 triệu người (chưa bao gồm lực lượng vũ trang) có thẻ BHYT để chăm sóc sức khỏe. Đây là kết quả tạo tiền vững chắc giúp Việt Nam sớm đạt mục tiêu BHYT toàn dân; trong khi theo thống kê một số quốc gia có nền kinh tế phát triển phải mất hơn 40 năm để đạt được mục tiêu này.

Cùng với độ bao phủ, quyền lợi BHYT mở rộng với số lượt người khám chữa bệnh BHYT và số chi từ quỹ BHYT liên tục tăng.

Theo thống kê, từ khi Luật BHYT số 25/2008/QH12 có hiệu lực năm 2009 đến hết năm 2024, cả nước đã có trên 2.120 triệu lượt người khám chữa bệnh BHYT; quỹ BHYT chi trả gần 1 triệu tỷ đồng cho khám chữa bệnh BHYT. 6 tháng đầu năm 2025, cả nước có hơn 95,59 triệu lượt khám chữa bệnh BHYT tại cơ sở khám chữa bệnh BHYT, tăng khoảng 8,44% so với 6 tháng đầu năm 2024. Ước tính số chi khám chữa bệnh BHYT tại cơ sở khám chữa bệnh BHYT hơn 76,1 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 14,8% so với 6 tháng đầu năm 2024.

Việc gia tăng số người tham gia BHYT, cũng như gia tăng số lượt khám chữa bệnh BHYT trên toàn quốc cho thấy chính sách BHYT đã trở thành một nguồn tài chính đáng kể góp phần cùng ngân sách nhà nước trong công tác bảo vệ, chăm sóc hiệu quả sức khỏe nhân dân.

Đặc biệt, trong bối cảnh giá dịch vụ y tế tăng (nhất là chi phí điều trị các bệnh mạn tính, bệnh hiểm nghèo,…) vai trò của chính sách BHYT ngày càng trở nên thiết thực, quan trọng với người dân hơn bao giờ hết.

Thực tế, rất nhiều trường hợp bệnh nhân mắc các bệnh hiểm nghèo, hay điều trị dài ngày có chi phí chữa bệnh lên tới hàng trăm triệu đồng, thậm chí hàng tỷ đồng đã được quỹ BHYT chi trả. Nhờ đó, đã giúp người bệnh cùng gia đình giảm bớt gánh nặng tài chính để tiếp tục yên tâm điều trị, vượt qua khó khăn.

Nhiều tiện ích trong khám chữa bệnh bảo hiểm y tế

Cùng với việc mở rộng phạm vi, mức hưởng khám chữa bệnh BHYT của người tham gia, cơ quan bảo hiểm xã hội và ngành y tế đã tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong thực hiện chính sách BHYT, tạo thuận lợi nhất cho người thụ hưởng.

Việc triển khai khám chữa bệnh BHYT bằng căn cước công dân gắn chip đã mang lại lợi ích đáng kể, nhất là trong việc giúp người dân và cơ sở y tế làm thủ tục khám chữa bệnh nhanh chóng, thuận tiện hơn.

Quyền lợi bảo hiểm y tế ngày càng mở rộng
Người dân làm thủ tục khám chữa bệnh bảo hiểm y tế bằng căn cước công dân gắn chip. Ảnh minh họa

Hiện nay, 100% cơ sở khám chữa bệnh BHYT đã triển khai khám chữa bệnh BHYT bằng căn cước gắn chip, với hơn 237,5 triệu lượt tra cứu thông tin thẻ BHYT bằng số định danh cá nhân/căn cước thành công phục vụ làm thủ tục khám chữa bệnh BHYT, tăng 83,7 triệu lượt tra cứu so với thời điểm hết năm 2024.

Việc triển khai sổ sức khỏe điện tử, giấy chuyển tuyến, giấy hẹn khám lại trên VneID; sử dụng ứng dụng VssID – bảo hiểm xã hội số… giúp quá trình tra cứu thông tin, quản lý lịch sử khám chữa bệnh của người bệnh đầy đủ và minh bạch.

Tính đến nay, toàn quốc đã có trên 364,6 triệu lượt gửi dữ liệu từ các cơ sở khám chữa bệnh BHYT lên Hệ thống thông tin giám định BHYT của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Trong đó, có gần 178,9 triệu lượt tra cứu thành công của hồ sơ khám sức khỏe, giấy chuyển tuyến, giấy hẹn khám lại được liên thông sang cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ tích hợp lên ứng dụng VneID.

Bên cạnh đó, cả nước có 1.380 cơ sở khám chữa bệnh đã gửi dữ liệu giấy khám sức khỏe lái xe, với hơn 6,8 triệu dữ liệu được gửi; có 1.971 cơ sở khám chữa bệnh gửi dữ liệu giấy chứng sinh, với hơn 2,5 triệu dữ liệu được gửi; 810 cơ sở khám chữa bệnh gửi dữ liệu giấy báo tử, với 33.642 dữ liệu được gửi.

Việc liên thông giấy khám sức khỏe lái xe qua hạ tầng của Bảo hiểm xã hội Việt Nam giúp người dân có thể đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy phép lái xe hoàn toàn trực tuyến, thay vì trước đây phải đến nơi cấp giấy phép lái xe để nộp bản giấy của giấy khám sức khỏe lái xe…

Kiểm soát tối ưu quỹ BHYT vì lợi ích của người bệnh

6 tháng đầu năm 2025, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã triển khai công tác thực hiện chính sách BHYT với nhiều giải pháp đồng bộ, sớm nắm bắt các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tổ chức bộ máy theo mô hình mới; kịp thời chi trả đầy đủ các chế độ BHYT và giám định, kiểm soát chi phí tối ưu quỹ BHYT. Đồng thời, chỉ đạo bảo hiểm xã hội các địa phương thường xuyên đánh giá, phân tích, thông báo các cơ sở khám chữa bệnh có chi phí tăng cao để tăng cường các biện pháp quản lý hiệu quả quỹ BHYT. Qua đó đã kịp thời phát hiện, ngăn chặn và phối hợp với cơ quan chức năng xử lý tình trạng lạm dụng, trục lợi quỹ khám chữa bệnh BHYT.

Hà My

Đọc thêm

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

(TBTCO) - Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. Doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Kim TT/AVPL 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
Nguyên Liệu 99.99 13,350 ▼450K 13,550 ▼450K
Nguyên Liệu 99.9 13,300 ▼450K 13,500 ▼450K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 ▼400K 13,800 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 ▼400K 13,750 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 ▼400K 13,730 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Nghệ An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Thái Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,020 ▼550K 13,720 ▼550K
Trang sức 99.99 13,030 ▼550K 13,730 ▼550K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 ▼54K 1,382 ▼54K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 ▼54K 1,383 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 ▼54K 1,367 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▼5346K 135,347 ▼5346K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 ▼4051K 102,685 ▼4051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 ▼3673K 93,115 ▼3673K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 ▲66311K 83,545 ▲74861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 ▼3149K 79,854 ▼3149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 ▼45146K 5,716 ▼53696K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18191 18770
CAD 18359 18635 19256
CHF 32297 32680 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29769 29992 31075
GBP 34437 34829 35767
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14988 15578
SGD 19896 20178 20759
THB 715 778 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80