Bức tranh toàn cảnh
Mặc dù vẫn còn 4 địa phương chưa gửi báo cáo, trong đó có TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, nhưng đến thời điểm này đã có thể có cái nhìn tương đối tổng thể về phương án đầu tư nâng cấp, hoàn thiện các tuyến đường bộ cao tốc đã đầu tư theo quy mô phân kỳ, nếu chiếu theo Công văn số 3371/BXD-KHTC được Bộ Xây dựng gửi Thủ tướng Chính phủ vào tuần trước.
Trước đó, tại Công điện số 05/CĐ-TTg ngày 20/1/2026, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã giao Bộ trưởng Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các địa phương liên quan khẩn trương rà soát, đề xuất phương án đầu tư nâng cấp, hoàn thiện các tuyến đường bộ cao tốc đã và đang đầu tư theo quy mô phân kỳ nhưng chưa bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đường bộ cao tốc, nhằm sớm đạt quy mô cao tốc hoàn chỉnh theo tiêu chuẩn.
![]() |
| Thi công mở rộng cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Long Thành từ 4 làn xe hiện hữu lên quy mô 8 - 10 làn xe. Ảnh: Anh Minh |
Trong thời gian vừa qua, do nguồn lực có hạn, nên nhiều tuyến cao tốc phải thực hiện đầu tư phân kỳ. Hiện cả nước còn khoảng 2.801 km đường cao tốc có quy mô 2 làn xe hoặc 4 làn xe hạn chế (không có làn dừng xe khẩn cấp liên tục), cần được xem xét đầu tư nâng cấp để đạt quy mô tiêu chuẩn từ 4 - 8 làn xe.
Trong Công văn số 3371/BXD-KHTC, Bộ Xây dựng kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo UBND các tỉnh đang có các tuyến cao tốc quy mô 2 làn xe như Thái Nguyên, Phú Thọ, Cao Bằng, Hải Phòng, Sơn La, Tuyên Quang… sớm bố trí vốn ngân sách địa phương hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét bổ sung vốn ngân sách trung ương để đầu tư hoàn thiện lên quy mô 4 làn xe tiêu chuẩn.
“Trong quá trình nghiên cứu đầu tư mở rộng, các địa phương cần rà soát, tính toán kỹ lưỡng phương án đầu tư để bảo đảm hiệu quả, tránh lãng phí” - Bộ Xây dựng đề xuất.
| Một số đặc điểm của tuyến cao tốc phân kỳ đầu tư Phạm vi, quy mô đầu tư: đến nay, có khoảng 2.170/2.801 km đường cao tốc đã được đưa vào khai thác hoặc thông xe kỹ thuật, gồm 548 km đường 2 làn xe và 1.559 km đường 4 làn xe hạn chế; còn 694 km đang thi công xây dựng (trong đó 105 km đường 2 làn xe và 589 km đường 4 làn xe hạn chế). Quy mô giải phóng mặt bằng: phần lớn các Dự án đã giải phóng mặt bằng theo quy mô quy hoạch 4 - 6 làn xe, với tổng chiều dài khoảng 2.107 km, chiếm 75% chiều dài các tuyến. Giải pháp thiết kế: phần lớn các tuyến được thiết kế lệch tim so với tim tuyến theo quy mô quy hoạch (khoảng 2.153 km), cho phép giai đoạn sau chỉ cần mở rộng một lần về một phía. Một số ít đoạn tuyến được thiết kế trùng tim tuyến (khoảng 648 km), khi mở rộng sẽ phải thực hiện về cả hai phía. Phương thức đầu tư: phần lớn các tuyến được triển khai theo hình thức đầu tư công, với tổng chiều dài khoảng 2.135 km, chiếm 76%; một số đoạn tuyến được đầu tư theo phương thức PPP với tổng chiều dài khoảng 666 km. |
Đối với các đoạn tuyến cao tốc quy mô 4 làn xe hạn chế đang đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP), Bộ Xây dựng kiến nghị Thủ tướng giao bộ này và UBND các tỉnh, thành phố như Hà Nội, Lạng Sơn, Lâm Đồng nghiên cứu chi tiết phương án đầu tư, xác định tổng mức đầu tư, phương án tài chính để mở rộng các tuyến cao tốc cửa khẩu Hữu Nghị - Chi Lăng, Dầu Giây - Tân Phú - Bảo Lộc - Liên Khương và Vành đai 4 TP. Hà Nội theo quy chuẩn đường cao tốc, làm cơ sở báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Liên quan đến tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông đoạn Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh, trường hợp mở rộng toàn tuyến lên quy mô 6 - 8 làn xe với tổng chiều dài khoảng 1.144 km, Bộ Xây dựng ước tính, tổng mức đầu tư khoảng 154.335 tỷ đồng. Trong đó, nhu cầu vốn ngân sách trung ương giai đoạn 2026 - 2030 bố trí “nâng đời” tuyến cao tốc xuyên Việt này khoảng 103.193 tỷ đồng.
Cân nhắc kỹ thời điểm đầu tư
Mặc dù đánh giá là cần thiết, nhưng Bộ Xây dựng cũng thừa nhận, việc đầu tư hoàn thiện ngay và đồng loạt các tuyến cao tốc phân kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Về mặt kỹ thuật, quá trình hoàn thiện các tuyến cao tốc phân kỳ sẽ phải thi công lại một số hạng mục đã hoàn thành trước đó, như thảm lại mặt đường, bù vênh hai mái thành một mái; dịch chuyển dải phân cách giữa và lưới chống chói; lắp đặt lại tôn lượn sóng, cọc tiêu, biển báo; kẻ lại vạch sơn; tháo dỡ và kéo dài giá long môn; đào cấp mái taluy để thi công mở rộng; phá dỡ đầu cống thoát nước, hầm chui dân sinh. Điều này khó tránh khỏi ý kiến của dư luận liên quan đến việc phải thi công lại các hạng mục đã đầu tư.
Đặc biệt, tại các tuyến Đồng Đăng - Trà Lĩnh và Tuyên Quang - Phú Thọ, các địa phương đã quyết định đầu tư theo quy mô hoàn chỉnh 4 làn xe hạn chế. Một số công trình cầu và hạng mục gia cố mái đã được xây dựng hoàn chỉnh. Do đó, nếu mở rộng lên quy mô cao tốc hoàn chỉnh sẽ phải phá bỏ một số hạng mục đã đầu tư.
Trong trường hợp đầu tư mở rộng bằng phương thức PPP, việc áp dụng thu phí đồng loạt trên các tuyến cao tốc cũng có thể tác động đáng kể đến chi phí logistics của nền kinh tế, đặc biệt đối với trục cao tốc Bắc - Nam phía Đông.
Theo PGS.TS Trần Chủng - Chủ tịch Hiệp hội Các nhà đầu tư công trình đường bộ Việt Nam, việc đầu tư hoàn thiện các tuyến cao tốc cần được đánh giá kỹ về thời điểm triển khai.
Tuy nhiên, riêng đối với tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông, cần sớm triển khai mở rộng lên quy mô 6 - 8 làn xe, bởi nếu để càng lâu thì áp lực vừa thi công vừa bảo đảm giao thông sẽ càng lớn.
“Hiện nay, hình thức hợp đồng OM (vận hành - bảo trì - khai thác) cũng đã có tiền lệ. Nếu cho phép một nhà đầu tư đồng thời ký hợp đồng OM cho tuyến hiện hữu và hợp đồng BOT cho phần mở rộng, sẽ mang lại nhiều lợi ích trong tổ chức thi công, tiết kiệm thời gian, chi phí và giảm áp lực cho ngân sách nhà nước” - PGS.TS Trần Chủng đề xuất.
![]() |
| Đồ họa: Phương Anh |



