Sau tăng vốn, ROE thấp có phải là bất lợi của VPBank?

(TBTCO) - Nếu chỉ nhìn vào con số, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) của VPBank giảm mạnh trong năm 2023 cho thấy hoạt động chưa hiệu quả. Nhưng đào sâu vào bên trong lý do vì sao ROE đột ngột giảm mạnh sẽ thấy đây lại là lợi thế cạnh tranh của VPBank trong tương lai.
aa

Kết thúc năm 2023, VPBank là ngân hàng có mức giảm ROE mạnh nhất trong tổng số các ngân hàng đang niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Hệ số ROE của VPBank giảm từ 16,0% cuối năm 2022 xuống còn 9,3% cuối năm 2023.

ROE là một trong những chỉ số quan trọng nhất thường được các nhà đầu tư đánh giá hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp. Chỉ số này phản ánh lợi nhuận được tạo ra từ đồng vốn của cổ đông bỏ ra. ROE càng cao có nghĩa doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh càng hiệu quả. Trong giai đoạn 2017-2022, VPBank luôn dao động trong khoảng từ 20% - 25%, thuộc nhóm các ngân hàng có chỉ số ROE cao nhất hệ thống. Sự hiệu quả hoạt động này cũng được thể hiện rõ ở lợi nhuận liên tục tăng cao trong nhiều năm. Trong giai đoạn 10 năm từ 2014 đến 2023 lợi nhuận trước thuế tăng 7 lần, tương đương mức tăng trưởng kép hàng năm gần 24%.

Sau tăng vốn, ROE thấp có phải là bất lợi của VPBank?

Tuy nhiên, với chỉ số ROE cuối năm 2023 chỉ đạt 9,3%, có phải VPBank đang hoạt động kém hiệu quả đi? Soi kỹ báo cáo tài chính của VPBank, có thể thấy rằng nguyên nhân chính tác động đến ROE của ngân hàng này không phải do hoạt động thiếu hiệu quả, mà do nguồn vốn chủ sở hữu tăng lên mạnh vào quý IV/2023. Sau thương vụ phát hành riêng lẻ thành công 15% vốn cổ phần cho cổ đông chiến lược SMBC của Nhật Bản, VPBank thu về gần 36 nghìn tỷ đồng. Lượng vốn này đổ vào khiến cho tổng vốn chủ sở hữu của ngân hàng tăng lên xấp xỉ 140 nghìn tỷ đồng, đưa VPBank trở thành ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn thứ 2 trên thị trường.

Công ty Chứng khoán Maybank nhận định trong một báo cáo về VPBank gửi tới các nhà đầu tư cuối tháng Ba cũng khẳng định ROE của VPBank giảm xuống thấp trong năm 2023 là “do được bơm vốn rất lớn trong năm 2022-2023.” Maybank cũng nhận định chỉ số ROE của ngân hàng này sẽ tiếp tục ở mức “khiêm tốn” trong giai đoạn 2024-2026 vì VPBank sẽ cần một khoảng thời gian là 2 - 3 năm để “triển khai sức mạnh vốn” đang có.

Thực tế, việc ROE sẽ giảm mạnh là một điều tạm thời phải chấp nhận sau khi ngân hàng triển khai kế hoạch phát hành riêng lẻ cho cổ đông chiến lược. Đổi lại, VPBank sẽ có một nguồn vốn lên tới hơn 1,5 tỷ USD có chi phí bằng 0 sẵn sàng phục vụ các kế hoạch kinh doanh dài hạn. Nhìn tổng thể, trong bối cảnh hiện tại, ROE tạm thời giảm mạnh xuống sẽ tạo động lực tăng trưởng cho VPBank trong tương lai khi nắm trong tay một lượng vốn lớn.

“Nền tảng vốn vững chắc luôn là điều kiện tiên quyết trong hoạt động ngân hàng, từ đó mới có thể giúp ngân hàng có cơ sở vững chắc để vượt qua thời kỳ khó khăn nhất,” bà Lưu Thị Thảo - Phó Tổng giám đốc thường trực, Giám đốc Điều hành cao cấp của VPBank, nói với các nhà đầu tư tại một cuộc gặp gỡ trực tuyến gần đây. Bà Thảo nhấn mạnh nền tảng vốn lớn chính là lợi thế cạnh tranh mạnh của VPBank trong bối cảnh nhiều ngân hàng ở Việt Nam vẫn bị cho là thiếu vốn.

Nhờ được bổ sung một lượng lớn vào vốn chủ sở hữu, VPBank trong năm 2023 là ngân hàng có hệ số an toàn vốn cao nhất hệ thống, đạt 17,1%. Ông Trần Thái Bình - chuyên gia phân tích thị trường từ Công ty Chứng khoán VPBankS, ước tính 1% tăng lên của hệ số an toàn vốn (CAR) - tương ứng với tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng 1,7% ở kỳ tiếp theo. Chiếu theo quy tắc này, nếu tăng trưởng tín dụng (hợp nhất) của VPBank trong 2023 là 25,6% thì sang 2024 tăng trưởng tín dụng có thể lên đến 32,4%.

Sau tăng vốn, ROE thấp có phải là bất lợi của VPBank?
VPBank trong năm 2023 là ngân hàng có hệ số an toàn vốn cao nhất hệ thống, đạt 17,1%. Ảnh: T.L

“Tiềm lực tài chính dồi dào sẽ giúp VPBank bứt phá giới hạn, không chỉ dừng lại ở các trụ cột khách hàng cá nhân, SME và tài chính tiêu dùng mà còn có thể thúc đẩy các mảng kinh doanh mới, đặc biệt là phân khúc khách hàng FDI nhờ mối quan hệ đối tác chiến lược với SMBC trong nỗ lực tận dụng cơ hội thị trường để tối đa hóa doanh thu và lợi nhuận, đồng thời hỗ trợ cho các phân khúc kinh doanh truyền thống” - ông Bình nói.

Rất có thể, ngay trong năm 2024 này, VPBank sẽ cho thấy lợi thế về quy mô vốn của ngân hàng sẽ phát huy hiệu quả ra sao. Trong tài liệu gửi tới các cổ đông vài tuần trước kỳ họp đại hội đồng cổ đông, VPBank đã đưa ra kế hoạch tăng trưởng lợi nhuận trước thuế hơn hai lần so với năm 2023. Trong đó, ngân hàng mẹ sẽ có lợi nhuận hơn 20 nghìn tỷ đồng. Các công ty con gồm FE CREDIT, VPBankS và OPES dự kiến sẽ có mức lợi nhuận lần lượt là 1.200 tỷ đồng, 1.900 tỷ đồng và hơn 800 tỷ đồng./.

Hồng Chi

Đọc thêm

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 17,150
Kim TT/AVPL 16,860 17,160
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 17,150
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 171,500
Hà Nội - PNJ 168,500 171,500
Đà Nẵng - PNJ 168,500 171,500
Miền Tây - PNJ 168,500 171,500
Tây Nguyên - PNJ 168,500 171,500
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 171,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 17,150
Miếng SJC Nghệ An 16,850 17,150
Miếng SJC Thái Bình 16,850 17,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 17,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 17,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 17,100
NL 99.90 15,670
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700
Trang sức 99.9 16,290 16,990
Trang sức 99.99 16,300 17,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 17,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 17,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 1,713
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 1,714
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 1,698
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 168,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 127,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 115,626
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 103,738
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 99,153
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 70,964
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 1,715
Cập nhật: 27/03/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17741 18014 18592
CAD 18522 18799 19416
CHF 32608 32992 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29820 30092 31120
GBP 34375 34766 35700
HKD 0 3237 3439
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14944 15527
SGD 19984 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26357
AUD 17914 18014 18942
CAD 18694 18794 19810
CHF 32851 32881 34459
CNY 3754.3 3779.3 3914.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30000 30030 31756
GBP 34667 34717 36469
HKD 0 3355 0
JPY 161.64 162.14 172.68
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15040 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20140 20270 21005
THB 0 747.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16850000 16850000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/03/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80