Tại sao cơ hội thu hẹp chênh lệch giá vàng không được tận dụng?

Nguyễn An
Sẵn có công cụ và nguồn lực trong tay, nhưng vì sao Ngân hàng Nhà nước không tranh thủ cơ hội thu hẹp hẳn chênh lệch giá vàng vừa hé mở?
aa

Yêu cầu đưa giá vàng trong nước sát giá thế giới mà Quốc hội và Chính phủ chỉ đạo đến nay vẫn chưa được đáp ứng. Ảnh: Bloombeg

Mức chênh lệch 400 nghìn đồng trở thành dự tính... "đãi bôi"

Tuần trước, lần đầu tiên trong khoảng hai năm qua chênh lệch giá vàng trong nước so với giá thế giới co hẹp chỉ còn trên dưới 2 triệu đồng/lượng. Diễn biến này có thể xem là cơ hội để Ngân hàng Nhà nước nhấn thêm lực, thu hẹp hẳn chênh lệch để đảm bảo yêu cầu của Quốc hội và Chính phủ đã giao từ năm ngoái.

Tuy nhiên, có vẻ như cơ hội đó đã trôi qua, chênh lệch lại doãng ra, lên khoảng 2,7 – 2,8 triệu đồng/lượng. Nhưng, câu chuyện chênh lệch giá vàng và việc thu hẹp nó lại không đơn giản như vậy.

Cuối năm 2011, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình dự tính thu hẹp chênh lệch giá vàng về khoảng 400 nghìn đồng/lượng là hợp lý. Đến nay, đó vẫn là một mức lý tưởng và chưa thể đạt được.

Từ đó đến nay, có thể khẳng định thu hẹp về 400 nghìn đồng/lượng không phải là mục tiêu mà nhà quản lý thị trường vàng hướng tới. Bởi từ năm 2011 đến nay tuyệt nhiên Ngân hàng Nhà nước không đưa ra bất cứ một mục tiêu thu hẹp, hay mức độ chênh lệch cụ thể nào là hợp lý.

Vậy mục tiêu của họ là gì? Với những thông tin đưa ra qua diễn đàn Quốc hội, qua các báo cáo về chính sách quản lý thị trường vàng đã đưa ra, Ngân hàng Nhà nước dường như cho biết, mục tiêu của mình chính là bình ổn thị trường, trong khi yêu cầu thu hẹp chênh lệch giá trở nên mờ nhạt.

Ở mục tiêu bình ổn, hai năm qua có thể thấy họ đã thành công khi hạn chế được những cơn sóng vàng từng gây chao đảo lãi suất, tỷ giá, thậm chí là ảnh hưởng đến cả ổn định vĩ mô như những năm 2008 - 2010.

Cuối năm 2011, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình dự tính thu hẹp chênh lệch giá vàng về khoảng 400 nghìn đồng/lượng là hợp lý. Đến nay, đó vẫn là một mức lý tưởng và chưa thể đạt được.

Suy đoán những nguyên nhân neo cao chênh lệch

Còn với yêu cầu thu hẹp chênh lệch, câu hỏi đặt ra suốt thời gian qua là vì sao khi đã có đầy đủ công cụ, nguồn lực trong tay mà vẫn chưa thực sự thu hẹp? Hay Ngân hàng Nhà nước không muốn thu hẹp?

Thứ nhất, có thể Ngân hàng Nhà nước đã và đang rất thận trọng khi tham gia thị trường vàng. Yêu cầu thu hẹp chênh lệch là áp lực, nhưng bảo đảm giá trị tài sản nhà nước còn áp lực hơn bởi nguồn vàng đưa ra bình ổn là từ dự trữ ngoại hối.

Kể từ phiên đấu thầu đầu tiên cho đến nay, cơ quan này không hề "nhượng bộ" giá đấu, áp thấp hẳn để thu hẹp chênh lệch ngay so với giá thế giới.

Tình huống suy xét ở đây là, nếu để thu hẹp ngay chênh lệch, Ngân hàng Nhà nước bán ra giá thấp hơn hẳn giá thị trường trong nước đang giao dịch, mức thấp đi đó được xem là tài sản nhà nước bị “thất thoát”. Trước 30/6, tình huống này còn gắn với cả e ngại giá thấp sẽ bù lỗ hay hỗ trợ cho các ngân hàng tất toán trạng thái.

Thứ hai, có lẽ Ngân hàng Nhà nước quan ngại nếu thu hẹp hẳn chênh lệch sẽ kích thích lực cầu, vốn lại đổ thêm vào vàng và liên quan là thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại.

Giả sử thời gian qua, có nhiều thời điểm nếu nhất quyết thu hẹp, giá vàng trong nước sẽ rơi về khoảng 31 - 33 triệu đồng/lượng. Đây được xem là vùng giá nhạy cảm, sẽ kích hoạt dòng người xếp hàng mua vào, thực tế đã được chứng minh ở những cú rơi như hồi tháng 4 và tháng 6 vừa qua. Nếu vậy, sóng vàng lại nổi, một bộ phận vốn dân cư sẽ chia tay ngân hàng để nhồi vào vàng, vừa nặng thêm áp lực tăng cung vàng cho thị trường, vừa gây khó khăn thanh khoản VND mà có thể làm gia tăng lãi suất…

Thứ ba, tương đồng với lý do trên, một mức chênh lệch giá đáng kể sẽ góp phần nhất định hạn chế nhu cầu mua vào của người dân; ngược lại là kích thích người nắm giữ xem xét bán ra.

Nhưng liệu điều này có nằm trong tính toán của Ngân hàng Nhà nước hay không, thì chỉ có... Ngân hàng Nhà nước mới biết mà thôi!

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước không thể can thiệp giá thế giới, trong khi đây là một yếu tố quan trọng tới quyết định chênh lệch giá.

Yêu cầu của Quốc hội và Chính phủ về thu hẹp chênh lệch bị... lãng quên!

Vừa qua, cơ hội chênh lệch đã co về trên dưới 2 triệu đồng/lượng, nhưng chỉ qua vài phiên giá thế giới giảm trở lại trong khi giá trong nước có “độ ì không liên thông”, chênh lệch lại doãng ra 2,7 - 2,8 triệu đồng/lượng.

Một câu hỏi được đặt ra, tại sao Ngân hàng Nhà nước nhân cơ hội này không hạ giá đấu thầu vàng để định hướng thị trường, thực hiện thu hẹp chênh lệch giá?

Có thể trả lời câu hỏi này cũng bằng cách tự suy đoán rằng: Nếu cung đấu thầu dồn dập để đè giá trong nước giảm theo, có thể Ngân hàng Nhà nước sợ lại bị cuốn vào biến động của thị trường thế giới.

Nếu ứng xử như vậy, Ngân hàng Nhà nước một mặt sẽ không đủ điều kiện để luôn chạy theo biến động thất thường cùng mức độ lớn của giá thế giới, mặt khác họ vô tình “bê” hẳn những cơn sóng bên ngoài vào mà gây xáo trộn thị trường trong nước.

Cho nên, chênh lệch giá có thể co hẹp lúc này và lại doãng ra lúc khác, phụ thuộc nhiều vào yếu tố tham chiếu là giá thế giới. Nó trở thành một câu chuyện dài và chưa rõ hồi kết. Còn Ngân hàng Nhà nước có lẽ sẽ vẫn theo đuổi mục tiêu: giữ thị trường vàng trong nước ổn định, ít có biến động và xáo trộn lớn.

Từ những suy đoán nguyên nhân như trên, việc cố neo khoảng cách chênh lệch giá ở mức cao như hiện nay có vẻ khá dễ nghe.

Nhưng một vấn đề quan trọng là, yêu cầu đưa giá vàng trong nước sát giá thế giới mà Quốc hội và Chính phủ chỉ đạo tại sao vẫn chưa được đáp ứng?

Mong muốn của người dân đang muốn được lắng nghe ý kiến lý giải một cách thỏa đáng việc này... có lẽ lại phải chờ thêm!

Nguyễn An

Nguyễn An

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80