Nợ xấu vượt 270 nghìn tỷ đồng, "bộ đệm" dự phòng rủi ro cải thiện lên 96%

Ánh Tuyết
Thống kê cho thấy, nợ xấu nội bảng của các ngân hàng niêm yết đạt 274 nghìn tỷ đồng, tăng 7 nghìn tỷ so với quý trước, nhưng tỷ lệ nợ xấu giảm nhẹ còn 2,01%. Trong khi đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu cũng được củng cố lên 96%, cùng với nhiều yếu tố hỗ trợ kỳ vọng sẽ cải thiện chất lượng tài sản và đóng góp tích cực vào lợi nhuận ngân hàng.
aa
Nợ xấu tăng hơn 16% vượt đà tín dụng, “bộ đệm” dự phòng dần hao mòn FiinGroup: Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm còn 80%, sức chống chịu rủi ro tín dụng suy yếu Nợ xấu tăng hơn 19%, ngân hàng gia cố “lá chắn” rủi ro

Nợ nhóm 2 giảm, áp lực chất lượng tài sản dịu nhiệt

Theo báo cáo về ngành ngân hàng mới công bố, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho biết, nợ xấu nội bảng toàn ngành tăng khoảng 7 nghìn tỷ đồng so với quý trước, lên mức 274 nghìn tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ nợ xấu 2,01%, giảm so với 2,04% trong quý II/2025.

Tuy nhiên, diễn biến này không đáng lo ngại khi nợ xấu hình thành ròng (nợ nhóm 2) tiếp tục giảm so với quý trước, xuống còn 28 nghìn tỷ đồng và các ngân hàng chủ động thu hẹp quy mô xử lý rủi ro trong kỳ xuống còn khoảng 21 nghìn tỷ đồng, thấp hơn lượng nợ xấu hình thành ròng.

Xu hướng nợ xấu hình thành ròng giảm và ổn định ghi nhận ở hầu hết các ngân hàng, ngoại trừ một số trường hợp.

Riêng đối với MB, theo nhóm phân tích của VDSC, phần nợ xấu tăng trong quý III/2025 mang tính tạm thời, chủ yếu do khó khăn của một số khách hàng trong lĩnh vực năng lượng tái tạo liên quan đến đàm phán hợp đồng mua bán điện với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), dự kiến sẽ được giải quyết trong quý IV/2025.

Ngược lại, VietinBank, Techcombank, ACB và Sacombank là những cái tên nổi bật về chất lượng tài sản, với khả năng thu hồi nợ nội bảng tốt và bộ đệm dự phòng được cải thiện đáng kể.

Nợ xấu vượt 270 nghìn tỷ đồng,
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Khảo sát của phóng viên cũng cho thấy, đến cuối quý III năm 2025, tổng nợ xấu (nhóm 3 - 5) của 27 ngân hàng niêm yết đạt khoảng 274.050 tỷ đồng, tăng 19,1% so với cuối năm 2024.

Trong đó, quý I/2025 ghi nhận đợt tăng mạnh nhất, khi nợ xấu tăng mạnh 15,4% so với cuối năm 2024, nhưng tốc độ tăng nợ xấu hai quý gần đây giảm dần. Theo đó, sang quý II, quy mô nợ xấu chỉ nhích thêm 1,2% so với quý trước; quý III, nợ xấu tăng thêm 2,3% so với quý II.

Dù vậy, nợ nhóm 5 - các khoản nợ có khả năng mất vốn tiếp tục tăng 11,7% so với cuối năm 2024, chiếm hơn 54% tổng nợ xấu toàn ngành, phản ánh rủi ro tín dụng vẫn tập trung cao ở nhóm nợ nghiêm trọng nhất.

Thu hồi nợ xấu tạo động lực tăng lợi nhuận

Cũng theo báo cáo của nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam, hoạt động thu hồi nợ xấu đã hỗ trợ đáng kể cho lợi nhuận của các ngân hàng và xu hướng này được kỳ vọng sẽ tiếp diễn trong quý cuối năm.

"Bộ đệm" dự phòng rủi ro cải thiện lên 96%

Theo đánh giá của VDSC, các ngân hàng tiếp tục tăng cường trích lập dự phòng cụ thể với tổng giá trị khoảng 34 nghìn tỷ đồng, giúp tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành (LLR) cải thiện nhẹ lên mức 96%, nhỉnh hơn so với 91% trong quý II/2025.

"Tuy vậy, cũng cần chú ý đến việc nợ xấu mới có khả năng gia tăng đến từ việc đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng" - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta lưu ý.

Tốc độ tăng tín dụng nhanh có thể làm gia tăng rủi ro suy giảm chất lượng tài sản, song nhìn chung, chất lượng tín dụng toàn hệ thống được kỳ vọng cải thiện cuối năm 2025 và năm 2026, nhờ ba yếu tố chính.

Nợ xấu vượt 270 nghìn tỷ đồng,

Nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta chỉ rõ, thứ nhất đến từ chu kỳ phục hồi của thị trường bất động sản. Thứ hai, luật hóa Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu. Thứ ba, tiến độ giải ngân đầu tư công được đẩy nhanh.

Riêng với việc luật hóa Nghị quyết 42 được kỳ vọng sẽ đẩy nhanh quá trình xử lý tài sản bảo đảm, giúp tăng tốc thu hồi nợ xấu. Nhờ đó, chất lượng tài sản của các ngân hàng dự kiến sẽ tiếp tục được cải thiện trong thời gian tới.

Các ngân hàng có quy mô nợ xấu lớn, đặc biệt là nợ nằm ngoài bảng cân đối kế toán, sẽ có cơ hội tăng thu nhập từ hoạt động xử lý nợ, nhờ hành lang pháp lý rõ ràng và cơ chế hỗ trợ mới từ Nghị quyết 42. Qua đó, đóng góp tích cực vào lợi nhuận ngân hàng trong thời gian tới.

Cũng cần nhấn mạnh rằng, việc luật hóa Nghị quyết 42 chủ yếu được xem là bước hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm hỗ trợ xử lý nợ xấu, thay vì tác động trực tiếp đến quy trình cho vay hay khẩu vị rủi ro của các ngân hàng. Mỗi ngân hàng vẫn duy trì hệ thống quản trị rủi ro riêng, tuân thủ quy định của Ngân hàng Nhà nước và các chuẩn mực quốc tế, nên quy trình và hoạt động kinh doanh sẽ ít chịu ảnh hưởng bởi việc luật hóa.

Dù vậy, với cơ chế pháp lý minh bạch và hiệu lực cao hơn, hiệu quả thu hồi nợ được kỳ vọng sẽ cải thiện dần, nhờ khách hàng chủ động trả nợ hơn và chi phí xử lý nợ giảm xuống. Điều này giúp các ngân hàng lớn có điều kiện tối ưu hóa quy trình xử lý nợ xấu, tăng khả năng thu hồi và nâng cao chất lượng tài sản.

"Chúng tôi tin rằng áp lực trích lập dự phòng sẽ giảm, đặc biệt đối với các ngân hàng có chất lượng tài sản tốt với tỷ lệ nợ xấu (NPL) thấp và tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) cao. Những ngân hàng này sẽ có dư địa để giảm trích lập dự phòng và cải thiện lợi nhuận" - Chứng khoán Yuanta đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

(TBTCO) - Qua 20 năm hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc huy động nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng có quy mô lớn, trọng điểm có ý nghĩa chiến lược của đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

(TBTCO) - Sáng ngày 15/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.131 đồng, tăng 5 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,2% lên 99,02 điểm, neo vùng cao nhất khoảng hai tuần gần đây khi giới đầu tư theo dõi sát cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung Quốc; đồng thời, lo ngại nguy cơ sai lầm chính sách tiền tệ toàn cầu và khả năng đảo chiều các giao dịch “carry trade” khi Nhật Bản tăng lãi suất.
Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước dự kiến sửa đổi Thông tư số 25/2013/TT-NHNN theo hướng phân cấp mạnh về Ngân hàng Nhà nước khu vực, tạo thuận lợi hơn khi đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung căn cứ xét đổi đối với tiền polymer bị cháy, co biến dạng còn tối thiểu 30% diện tích.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 14,900 15,100
Nguyên Liệu 99.9 14,850 15,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 163,500
Hà Nội - PNJ 160,500 163,500
Đà Nẵng - PNJ 160,500 163,500
Miền Tây - PNJ 160,500 163,500
Tây Nguyên - PNJ 160,500 163,500
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 163,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,800
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 16,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 16,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cập nhật: 17/05/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18301 18577 19164
CAD 18631 18909 19526
CHF 32817 33202 33870
CNY 0 3828 3922
EUR 30000 30273 31307
GBP 34301 34692 35644
HKD 0 3234 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15075 15660
SGD 20029 20311 20846
THB 721 785 838
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/05/2026 05:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80