Ngày 6/1: Giá vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng

Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước hôm nay (6/1) đồng loạt tăng, vàng miếng vượt ngưỡng 157 triệu đồng/lượng; giá vàng thế giới cũng chung xu hướng tăng mạnh.
aa
Ngày 6/1: Giá vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng
Giá vàng trong nước hôm nay đảo chiều tăng mạnh. Ảnh tư liệu

Thị trường trong nước

Tại thời điểm khảo sát lúc 4h30 ngày 6/1/2026, giá vàng miếng trong nước được các doanh nghiệp niêm yết như sau:

Công ty TNHH MTV Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), giá vàng miếng SJC được niêm yết mua vào 155,1 triệu đồng/lượng, bán ra 157,1 triệu đồng/lượng. Chênh lệch giá mua - bán ở mức 2 triệu đồng/lượng.

Tương tự, tại Công ty Bảo Tín Minh Châu, vàng miếng SJC được giao dịch mua vào 155,1 triệu đồng/lượng, bán ra 157,1 triệu đồng/lượng; chênh lệch giá mua - bán cũng ở mức 2 triệu đồng/lượng.

Tại Tập đoàn DOJI, sáng nay giá vàng SJC được niêm yết mua vào 155,1 triệu đồng/lượng, bán ra 157,1 triệu đồng/lượng, với mức chênh lệch 2 triệu đồng/lượng.

Như vậy, giá vàng miếng SJC hôm nay tại các doanh nghiệp lớn SJC, DOJI và Bảo Tín Minh Châu đồng loạt tăng mạnh 4,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên trước.

Riêng tại Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý, giá vàng miếng SJC mua vào 154,3 triệu đồng/lượng, bán ra 156,8 triệu đồng/lượng; tăng 3,8 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra, còn chiều mua vào tăng 4 triệu đồng/lượng. Hiện chênh lệch mua - bán ở mức 2,5 triệu đồng/lượng.

Đối với vàng nhẫn, giá vàng nhẫn Hưng Thịnh Vượng 9999 của DOJI được niêm yết mua vào 151 triệu đồng/lượng, bán ra 154 triệu đồng/lượng. So với phiên trước, vàng nhẫn Hưng Thịnh Vượng 9999 tăng 2 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra; chênh lệch mua - bán là 3 triệu đồng/lượng.

Tại Công ty Bảo Tín Minh Châu, vàng nhẫn tròn trơn Rồng Thăng Long được mua vào 154,3 triệu đồng/lượng, bán ra 157,3 triệu đồng/lượng. So với phiên trước, vàng nhẫn tròn trơn Rồng Thăng Long tăng 2,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra; chênh lệch mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, vàng nhẫn tròn Phú Quý 999.9 được Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý niêm yết mua vào 152 triệu đồng/lượng, bán ra 155 triệu đồng/lượng. So với phiên trước, vàng nhẫn tròn Phú Quý 999.9 tăng 2,2 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra; chênh lệch mua - bán duy trì ở mức 3 triệu đồng/lượng.

Tại Bảo Tín Mạnh Hải, vàng nhẫn ép vỉ Kim Gia Bảo được mua vào 154,3 triệu đồng/lượng, bán ra 157,3 triệu đồng/lượng. So với cùng thời điểm phiên trước, vàng nhẫn ép vỉ Kim Gia Bảo tăng 2,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra; chênh lệch mua - bán là 3 triệu đồng/lượng.

Nhìn chung, giá vàng trong nước tăng mạnh trên diện rộng. Cụ thể, vàng miếng SJC tại các doanh nghiệp lớn như SJC, DOJI và Bảo Tín Minh Châu được niêm yết mua vào 155,1 triệu đồng/lượng, bán ra 157,1 triệu đồng/lượng, tăng 4,3 triệu đồng/lượng so với phiên trước; chênh lệch mua - bán duy trì 2 triệu đồng/lượng. Riêng Phú Quý ghi nhận mức tăng 3,8 - 4 triệu đồng/lượng.

Giá vàng nhẫn cũng đồng loạt đi lên. Các thương hiệu DOJI, Bảo Tín Minh Châu, Phú Quý và Bảo Tín Mạnh Hải tăng khoảng 2 - 2,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, với chênh lệch mua - bán phổ biến 3 triệu đồng/lượng.

Thị trường thế giới

Theo Kitco, giá vàng thế giới ghi nhận lúc 4h30 hôm nay theo giờ Việt Nam giao ngay ở ngưỡng 4.449 USD/ounce, tăng 117 USD/ounce so với rạng sáng qua. Quy đổi theo tỷ giá Vietcombank, chưa thuế, phí, giá vàng thế giới tương đương khoảng 141,5 triệu đồng/lượng .

Như vậy, giá vàng miếng trong nước đang cao hơn giá vàng thế giới 15,6 triệu đồng/lượng.

Giá vàng thế giới tăng mạnh lên mức cao nhất trong hơn một tuần, khi căng thẳng địa chính trị bùng phát sau việc Mỹ bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro đã kích hoạt làn sóng tìm đến các tài sản an toàn.

Vàng đã tăng khoảng 64% trong năm ngoái, ghi nhận mức tăng mạnh nhất theo năm kể từ 1979, nhờ việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất, căng thẳng địa chính trị, hoạt động mua vào mạnh mẽ của các ngân hàng trung ương và lượng nắm giữ tăng tại các quỹ ETF.

Các chiến lược gia về hàng hóa tại RBC dự đoán giá vàng sẽ chủ yếu giao dịch trong khoảng từ 4.500 - 5.000 USD/ounce trong năm 2026, với giá có xu hướng nghiêng về mức cao hơn vào nửa cuối năm./.

Huyền Minh (tổng hợp)

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 23/3, giá vàng trong nước đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ nguyên giá, với mặt bằng giao dịch phổ biến quanh 168 - 171 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/3: Giá vàng lao dốc, “bốc hơi” hơn 5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/3: Giá vàng lao dốc, “bốc hơi” hơn 5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 22/3 đồng loạt giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm phổ biến hơn 5 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giá lùi về quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/3: Giá vàng quay đầu tăng sau phiên giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 21/3: Giá vàng quay đầu tăng sau phiên giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 21/3 đảo chiều tăng trở lại tại hầu hết doanh nghiệp lớn. Mặt bằng giá được điều chỉnh tăng từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 20/3: Giá vàng giảm mạnh lên đến 7,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/3: Giá vàng giảm mạnh lên đến 7,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 20/3 giảm mạnh tại hầu hết doanh nghiệp, với mức điều chỉnh lên tới 7,5 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lùi về quanh 172 - 175 triệu đồng/lượng.
Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu

Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu

(TBTCO) - Vàng và bạc cùng tham gia đợt bán tháo trên diện rộng vào ngày 19/3, với giá giảm lần lượt khoảng 5% và 10%, do lo ngại về cuộc chiến tại Iran và lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu.
WGC thúc đẩy hạ tầng chung, vàng kỹ thuật số có thể trở thành tài sản thế chấp

WGC thúc đẩy hạ tầng chung, vàng kỹ thuật số có thể trở thành tài sản thế chấp

Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) vừa công bố sáng kiến “Vàng như một dịch vụ” (Gold-as-a-Service) nhằm xây dựng hạ tầng mới, mở ra giai đoạn phát triển tiếp theo cho vàng kỹ thuật số. Mô hình này được kỳ vọng định hình lại cách phát hành, vận hành các sản phẩm, tăng tính liên thông, thanh khoản; qua đó, vàng kỹ thuật số có thể dùng làm tài sản thế chấp cho các khoản vay.
Giá vàng hôm nay ngày 19/3:  Vàng nhẫn giảm giá tại nhiều doanh nghiệp lớn

Giá vàng hôm nay ngày 19/3: Vàng nhẫn giảm giá tại nhiều doanh nghiệp lớn

(TBTCO) - Sáng ngày 19/3, giá vàng nhẫn được niêm yết quanh vùng 178,8 - 182,9 triệu đồng/lượng, ghi nhận điều chỉnh giảm tại một số doanh nghiệp lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 17/3: Giá vàng tăng nhẹ 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/3: Giá vàng tăng nhẹ 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 17/3 ghi nhận tăng nhẹ khi nhiều doanh nghiệp đồng loạt nâng giá vàng miếng và vàng nhẫn thêm khoảng 500.000 đồng/lượng.
Xem thêm
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18627
CAD 18525 18802 19419
CHF 32612 32996 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29835 30108 31141
GBP 34397 34788 35725
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14980 15568
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80