FiinGroup: Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm còn 80%, sức chống chịu rủi ro tín dụng suy yếu

Báo cáo của FiinGroup cho thấy, lợi nhuận quý II/2025 toàn thị trường tăng 34,6%, đạt mức cao nhất trong 6 quý, song ngành ngân hàng chỉ ghi nhận 17,8%, phản ánh xu hướng chững lại. Tăng trưởng chủ yếu dựa vào thu nhập ngoài lãi từ thu hồi nợ xấu. Dù chất lượng tài sản có dấu hiệu cải thiện, nhưng trích lập dự phòng không theo kịp.
aa
Những "ẩn giấu" sau bước nhảy vọt của tín dụng nửa đầu năm 2025 Nợ xấu tăng hơn 16% vượt đà tín dụng, “bộ đệm” dự phòng dần hao mòn Bức tranh đối lập giữa tăng trưởng tín dụng và NIM ngành ngân hàng

Nhóm Phân tích Dữ liệu thuộc Công ty cổ phần FiinGroup Việt Nam vừa công bố báo cáo Data Digest số 25 với chủ đề “Tín hiệu từ... Lợi nhuận lõi”, nhằm cung cấp thông tin và phân tích về toàn cảnh hoạt động của thị trường thời gian vừa qua.

Lợi nhuận ngân hàng chững lại, thu nhập ngoài lãi thành điểm tựa

Báo cáo cho thấy, lợi nhuận quý II/2025 toàn thị trường tăng mạnh 34,6% so với cùng kỳ và 23,6% so với quý trước, đây là mức cao nhất trong 6 quý gần đây. Tuy nhiên, riêng ngành ngân hàng chỉ đạt mức tăng trưởng 17,8% so với cùng kỳ và 7,8% so với quý trước, thấp hơn đáng kể so với toàn thị trường, phản ánh xu hướng chững lại và và không còn đóng vai trò dẫn dắt lợi nhuận toàn thị trường trong ngắn hạn.

Cùng với đó, kết thúc nửa đầu năm 2025, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch lợi nhuận toàn thị trường mới đạt 50,8%, cho thấy lợi nhuận thực tế chưa có sự đột biến so với kế hoạch. Trong đó, các ngành trụ cột như ngân hàng có tỷ lệ hoàn thành ở mức khiêm tốn 49,5%, với triển vọng nửa cuối năm chưa thực sự khả quan.

FiinGroup: Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm còn 80%, sức chống chịu rủi ro tín dụng suy yếu
Nguồn: FiinGroup.

Thu nhập lãi thuần tăng thấp chỉ 8,3%

Trong bối cảnh biên lãi ròng (NIM) duy trì ở vùng đáy khiến thu nhập lãi thuần chỉ tăng nhẹ 8,3% so với quý trước. Tăng trưởng lợi nhuận được hỗ trợ chủ yếu từ thu nhập ngoài lãi (tăng 19,7%), góp phần bù đắp mức tăng mạnh về chi phí dự phòng (tăng 20%) - mức cao nhất trong hơn 3 năm.

Theo nhóm phân tích của FiinGroup, thu nhập ngoài lãi có đóng góp lớn từ hoạt động thu hồi nợ xấu ghi nhận ở ACB, ABBank, VPBank, BIDV, đây là các yếu tố có thể diễn ra ở các ngân hàng khác trong thời gian tới sau khi một số quy định trong Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết 42) đã được luật hóa, giúp thúc đẩy quá trình xử lý tài sản đảm bảo.

Cũng theo FiinGroup, tín dụng quý II/2025 tăng 6,3% so với quý trước, so với mức tăng 3,6% trong quý I, dẫn đầu là nhóm ngân hàng tư nhân như ABBank (tăng 16,8%), HDBank (tăng 14%), VPBank (tăng 12,7%) và TPBank (tăng 8,1%) nhờ đẩy mạnh cho vay doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản.

Tỷ lệ bao phủ nợ xấu suy giảm

Chất lượng tài sản có dấu hiệu cải thiện, với tỷ lệ phát sinh nợ xấu mới chỉ 0,01%, nợ tiềm ẩn rủi ro giảm 34,8 nghìn tỷ đồng so với quý trước. Tỷ lệ nợ cần chú ý (nợ nhóm 2) giảm còn 1,2%, tỷ lệ nợ xấu (NPL) hạ nhẹ về 2%.

"Sự cải thiện này phần nào nhờ vào quá trình thu hồi nợ xấu cả nội và ngoại bảng được đẩy mạnh, sau khi một số quy định trong Nghị quyết 42 đã được luật hóa cũng như nỗ lực tái cơ cấu nội bộ tại nhiều ngân hàng" - nhóm phân tích FiinGroup đánh giá.

FiinGroup: Tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm còn 80%, sức chống chịu rủi ro tín dụng suy yếu
Nguồn: FiinGroup.

Tuy nhiên, theo FiinGroup, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLCR) chỉ ở mức 80,3%, tương phản với mức 149,2% trong quý I/2022, dù tỷ lệ NPL chỉ ở mức 1,4%. Hiện tại, dù NPL ở mức 2%, nhưng trích lập dự phòng không theo kịp, cho thấy khả năng chống chịu rủi ro tín dụng khá thấp.

Theo FiinGroup, hoạt động của toàn ngành ngân hàng đang được hỗ trợ bởi hai yếu tố quan trọng, đó là tín dụng bất động sản phục hồi và Nghị quyết 42 được luật hóa, giúp quá trình xử lý nợ xấu diễn ra nhanh hơn.

Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng quy mô vừa và nhỏ được đánh giá có triển vọng tích cực trong trung hạn nhờ tín dụng tăng trưởng mạnh, nhất là ở mảng cho vay doanh nghiệp.

Đồng thời, các ngân hàng còn có cơ hội ghi nhận lợi nhuận đột biến từ việc thu hồi và xử lý nợ xấu gắn với tài sản bảo đảm là bất động sản. Bên cạnh đó, việc áp dụng chính sách trích lập dự phòng thận trọng cũng giúp các ngân hàng này kiểm soát tốt chi phí tín dụng. ACB và VIB là hai ví dụ tiêu biểu.

Ngược lại, MB ghi nhận lợi nhuận quý II/2025 suy giảm so với quý trước, song triển vọng trung hạn vẫn tích cực nhờ tín dụng kỳ vọng tăng, NIM ổn định trở lại khi CASA (tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn) phục hồi, nợ xấu được xử lý, áp lực trích lập giảm dần.

Về động lực tăng trưởng ngành ngân hàng, FiinGroup cho rằng, năm 2025 được dự báo là cao điểm tăng vốn cổ phần của ngành ngân hàng với tổng giá trị khoảng 33 nghìn tỷ đồng, vượt các năm trước. Mục tiêu là củng cố bộ đệm vốn, đáp ứng yêu cầu an toàn vốn trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động, LDR (tỷ lệ dư tín dụng/số vốn huy động) toàn ngành vượt 108%.

Trong đó, các ngân hàng quốc doanh như: Vietcombank, BIDV chiếm phần lớn quy mô tăng vốn, trong khi khối tư nhân gồm Techcombank, MB, NCB, VietABank, BVBank cũng tích cực chuẩn bị phát hành cổ phiếu hoặc IPO (chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng) công ty con./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (21/9): USD phân hóa, DXY neo vùng cao nhất 7 tuần khi thị trường chờ dữ liệu từ Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (21/9): USD phân hóa, DXY neo vùng cao nhất 7 tuần khi thị trường chờ dữ liệu từ Mỹ

(TBTCO) - Sáng 21/9, Ngân hàng Nhà nước giữ tỷ giá trung tâm ở mức 25.637 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,23 điểm, duy trì vùng cao nhất khoảng 7 tuần. Tuần này, thị trường tập trung vào loạt dữ liệu kinh tế Mỹ, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Trung và các cuộc họp chính sách của nhiều ngân hàng trung ương lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,600 ▼1000K 146,600 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 14,360 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 ▼100K 14,660 ▼100K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,970 ▼100K 14,570 ▼100K
Trang sức 99.99 13,980 ▼100K 14,580 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 ▼10K 14,662 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 ▼10K 14,663 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼10K 1,461 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼10K 1,462 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 ▼10K 1,451 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 ▼990K 143,663 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 ▼750K 108,986 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 ▼680K 98,828 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 ▼61K 8,867 ▼61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 ▼583K 84,752 ▼583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 ▲45735K 60,663 ▲54555K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼10K 1,466 ▼10K
Cập nhật: 21/09/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18000 18274 18850
CAD 18039 18314 18928
CHF 30950 31327 31973
CNY 0 3841 3937
EUR 29212 29432 30508
GBP 33991 34381 35308
HKD 0 3184 3386
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14570 15158
SGD 19848 20130 20696
THB 696 759 812
USD (1,2) 25746 0 0
USD (5,10,20) 25785 0 0
USD (50,100) 25813 25827 26193
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,272 29,295 30,684
JPY 161.27 161.56 171.31
GBP 34,192 34,285 35,471
AUD 18,187 18,253 18,950
CAD 18,233 18,292 18,969
CHF 31,232 31,329 32,248
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,809 3,954
HKD 3,248 3,258 3,395
KRW 17.29 18.03 19.62
THB 744.24 753.43 806.47
NZD 14,545 14,680 15,118
SEK - 2,599 2,691
DKK - 3,926 4,065
NOK - 2,713 2,811
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,960.1 - 6,727.23
TWD 737.68 - 893.72
SAR - 6,805.55 7,168.69
KWD - 82,348 87,625
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,309 29,427 30,627
GBP 34,205 34,342 35,368
HKD 3,248 3,261 3,378
CHF 31,091 31,216 32,159
JPY 161.83 162.48 170.46
AUD 18,193 18,266 18,860
SGD 20,036 20,116 20,706
THB 761 764 801
CAD 18,249 18,322 18,912
NZD 14,631 15,173
KRW 17.95 19.92
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26190
AUD 18167 18267 19192
CAD 18201 18301 19315
CHF 31180 31210 32792
CNY 3823.2 3848.2 3983.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29381 29411 31133
GBP 34266 34316 36084
HKD 0 3305 0
JPY 162.07 162.57 173.08
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14663 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19991 20121 20852
THB 0 725.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,700 25,820 26,210
USD20 25,670 25,820 26,210
USD1 25,650 25,820 26,210
AUD 18,213 18,313 19,453
EUR 29,197 29,297 30,993
CAD 18,170 18,270 19,598
SGD 20,076 20,226 20,809
JPY 162.93 164.43 170.2
GBP 34,203 34,353 35,710
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,730 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/09/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30