Cuộc sàng lọc mới của ngành ngân hàng trong chu kỳ tín dụng cao

Thu Hương
(TBTCO) - Tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao đang mở ra dư địa mở rộng hoạt động cho hệ thống ngân hàng, song đồng thời tạo ra sự phân hóa rõ nét khi áp lực về vốn, huy động và chất lượng tài sản ngày càng lớn trong năm 2026.
aa
Năm 2026, ngành ngân hàng bước vào giai đoạn sàng lọc, phân hóa Làn sóng chuyển sàn của các ngân hàng năm 2026

Tín dụng tăng nhanh thử thách ngân hàng

Theo đánh giá triển vọng các nhóm ngành năm 2026 của các chuyên gia từ Chứng khoán VNDIRECT, ngành ngân hàng tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong hệ thống tài chính, song vận động trong bối cảnh đan xen giữa động lực tăng trưởng tín dụng cao và áp lực về vốn, thanh khoản cũng như chất lượng tài sản.

Trong giai đoạn 2025 - 2026, tăng trưởng tín dụng được dự báo duy trì quanh mức 19% mỗi năm nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho các đại dự án quốc gia và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Với tốc độ này, tỷ lệ tổng dư nợ trên GDP có thể tiệm cận ngưỡng 160%, phản ánh mức độ mở rộng đáng kể của hệ thống ngân hàng.

Cuộc sàng lọc mới của ngành ngân hàng trong chu kỳ tín dụng cao
Nguồn: Chứng khoán VNDIRECT.

Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng tín dụng không phân bổ đồng đều. Những ngân hàng có hệ số an toàn vốn (CAR) tốt sẽ chủ động hơn trong việc mở rộng cho vay, trong khi áp lực tăng vốn ngày càng rõ rệt khi CAR toàn ngành có xu hướng bị bào mòn do tín dụng tăng nhanh. Đối với nhóm ngân hàng quốc doanh, tăng trưởng tín dụng mạnh càng làm nổi bật nhu cầu bổ sung vốn tự có, bởi hệ số CAR của nhóm này hiện vẫn thấp hơn so với mặt bằng chung thị trường.

Ở chiều huy động, tăng trưởng tiền gửi trong năm 2025 có dấu hiệu chậm lại do mặt bằng lãi suất huy động duy trì ở vùng thấp nhất trong khoảng 5 năm trở lại đây và kéo dài từ đầu năm 2024.

Các chuyên gia từ Chứng khoán VNDIRECT nhận định, trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động, thanh khoản hệ thống nhiều khả năng tiếp tục chịu áp lực, dù triển vọng lãi suất USD giảm dần có thể tạo điều kiện để các ngân hàng quay lại tìm kiếm nguồn vốn nước ngoài hỗ trợ thanh khoản.

Trong khi đó, lợi suất trên thị trường chứng khoán liên tục vượt lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng, khiến dòng tiền nhàn rỗi có xu hướng dịch chuyển sang các kênh đầu tư rủi ro cao hơn. Cùng với đó, tại một số ngân hàng, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn đã tiệm cận ngưỡng quy định, buộc các nhà băng phải điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn.

Diễn biến này khiến lãi suất huy động có xu hướng nhích tăng về cuối năm nhằm giữ chân lượng tiền gửi đến hạn và tìm kiếm thêm nguồn vốn mới. Song song với đó, các ngân hàng gia tăng phát hành giấy tờ có giá để đáp ứng nhu cầu tín dụng cao, và xu hướng này được dự báo sẽ tiếp diễn trong năm 2026.

Về hiệu quả hoạt động, biên lãi ròng (NIM) toàn ngành trong 9 tháng năm 2025 đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 5 năm, quanh 3%, do áp lực duy trì lãi suất cho vay thấp trong khi chi phí vốn tăng lên. Sang năm 2026, lãi suất cho vay được kỳ vọng sẽ điều chỉnh tăng nhẹ, cùng với sự hỗ trợ từ hoàn nhập lãi dự thu, qua đó tạo dư địa cải thiện NIM. Việc kiểm soát chi phí vốn hiệu quả sẽ giúp các ngân hàng nâng cao khả năng lựa chọn khách hàng, giảm rủi ro và cải thiện chất lượng tăng trưởng trong dài hạn.

Tái cơ cấu lợi nhuận và rủi ro

Ở khía cạnh rủi ro tín dụng, nợ xấu có xu hướng quay trở lại, kéo theo tỷ lệ bao phủ nợ xấu tại nhiều ngân hàng tiếp tục suy giảm. Nợ nhóm 2 gia tăng từ quý III/2025 do một bộ phận doanh nghiệp sau cơ cấu nợ vẫn chưa phục hồi đủ để trả nợ đúng hạn, cùng với tác động từ thiên tai và việc hạ chuẩn tín dụng trong giai đoạn tín dụng tăng trưởng nhanh.

Cuộc sàng lọc mới của ngành ngân hàng trong chu kỳ tín dụng cao
Nguồn: Chứng khoán VNDIRECT.

Trong bối cảnh bộ đệm dự phòng đã mỏng đi, nhiều ngân hàng sẽ cần củng cố lại tỷ lệ bao phủ nợ xấu để nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc tài chính. Theo đánh giá của VNDIRECT, những ngân hàng duy trì được tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 80% sẽ có nhiều dư địa tăng trưởng lợi nhuận trong năm 2026 mà chưa chịu áp lực trích lập lớn.

Hoạt động xử lý nợ xấu được kỳ vọng là điểm sáng của ngành trong năm tới. Luật Các tổ chức tín dụng mới, có hiệu lực từ tháng 10/2025, đã cụ thể hóa các quy định trước đây, tạo hành lang pháp lý rõ ràng hơn cho việc thu hồi và xử lý nợ. Nhiều ngân hàng đã đẩy mạnh hoạt động này trong năm 2025 và xu hướng được dự báo sẽ tăng tốc trong năm 2026, qua đó không chỉ giúp cải thiện chất lượng tài sản mà còn hỗ trợ lợi nhuận thông qua hoàn nhập dự phòng và mở rộng dư địa cho vay mới.

Song song với thu nhập từ lãi, doanh thu ngoài lãi được kỳ vọng tăng trưởng tích cực nhờ các khoản thu từ phí dịch vụ, bảo hiểm, hoạt động đầu tư và xử lý nợ. Lợi thế thuộc về những ngân hàng sở hữu hệ sinh thái toàn diện, tận dụng hiệu quả mô hình hiệp lực tập đoàn để đa dạng hóa nguồn thu. Đóng góp từ các công ty con trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính tiêu dùng và chứng khoán ngày càng rõ nét, qua đó gia tăng vai trò trong cơ cấu lợi nhuận hợp nhất.

Về chi phí, quá trình số hóa, tinh gọn mạng lưới và tối ưu quy trình tiếp tục giúp tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) duy trì ở mức thấp. Tuy nhiên, trong trung hạn, CIR được dự báo ổn định quanh 32% do các ngân hàng vẫn phải tăng đầu tư cho hạ tầng công nghệ, chuyển đổi số và đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về quản trị, an toàn vốn, đồng thời phát triển sản phẩm mới để duy trì lợi thế cạnh tranh.

Xét về định giá, cổ phiếu ngân hàng hiện đã quay trở lại vùng trung bình 5 năm, thấp hơn đáng kể so với giai đoạn định giá cao trong quá khứ. Một số mã đang giao dịch dưới mức P/B trung bình lịch sử, tạo vùng định giá hấp dẫn trong bối cảnh triển vọng lợi nhuận năm 2026 được đánh giá tích cực hơn.

Thu Hương

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Ngay trong những ngày đầu tháng 7/2026, khoảng 3,5 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội trên cả nước đã được nhận mức hưởng mới tăng 8% theo quy định của Chính phủ. Việc chi trả được triển khai nhanh chóng, kịp thời, đặc biệt với hình thức chuyển khoản, góp phần mang lại sự thuận tiện và niềm vui cho người hưởng.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các địa phương phối hợp chặt chẽ với các đơn vị cung ứng dịch vụ chi trả và các ngân hàng để bảo đảm người hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp bảo hiểm xã hội nhận đúng, nhận đủ chế độ theo mức mới ngay từ những ngày đầu tiên của kỳ chi trả tháng 7/2026.
Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Ngân hàng Nhà nước phấn đấu tăng trưởng tín dụng cả năm đạt khoảng 15%, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo lạm phát trong tầm kiểm soát. Thống đốc lưu ý, tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với chất lượng, hiệu quả, an toàn, Ngân hàng Nhà nước chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng.
Bảo Việt đứng đầu Top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2026 do Brand Finance công bố

Bảo Việt đứng đầu Top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2026 do Brand Finance công bố

(TBTCO) - Brand Finance - công ty tư vấn định giá thương hiệu (London, Anh) chính thức công bố danh sách Top 100 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam. Theo đó Bảo Việt là doanh nghiệp nhóm ngành bảo hiểm được ghi nhận ở thứ hạng cao nhất.
Một thập kỷ giữ cam kết, vun bồi niềm tin và đồng hành cùng khách hàng xây dựng hạnh phúc

Một thập kỷ giữ cam kết, vun bồi niềm tin và đồng hành cùng khách hàng xây dựng hạnh phúc

(TBTCO) - Ngày 2/7/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ MB Ageas (MB Life) đã tổ chức Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập (2016 - 2026). Nhân dịp này, MB Life vinh dự đón nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND TP. Hà Nội, ghi nhận những thành tích trong thực hiện nhiệm vụ góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô.
Sản phẩm mới tạo lực đẩy cho bảo hiểm nhân thọ

Sản phẩm mới tạo lực đẩy cho bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Sau giai đoạn chịu nhiều sức ép về niềm tin và khai thác mới, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đang đẩy mạnh ra mắt sản phẩm mới theo hướng đơn giản hơn, thiết thực hơn và sát nhu cầu bảo vệ tài chính của khách hàng, qua đó kỳ vọng mở rộng tệp khách hàng và hỗ trợ thị trường phục hồi bền vững trong thời gian tới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 15,140
Kim TT/AVPL 14,840 15,140
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 15,140
Nguyên Liệu 99.99 13,600 13,800
Nguyên Liệu 99.9 13,550 13,750
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 14,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 14,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 14,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,400 151,400
Hà Nội - PNJ 148,400 151,400
Đà Nẵng - PNJ 148,400 151,400
Miền Tây - PNJ 148,400 151,400
Tây Nguyên - PNJ 148,400 151,400
Đông Nam Bộ - PNJ 148,400 151,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 15,140
Miếng SJC Nghệ An 14,840 15,140
Miếng SJC Thái Bình 14,840 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,330 ▲40K 15,030 ▲40K
Trang sức 99.99 14,340 ▲40K 15,040 ▲40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 15,142
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 15,143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 1,514
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 1,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 148,317
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 112,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 102,024
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 91,537
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 87,492
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 62,623
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cập nhật: 04/07/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17714 17987 18563
CAD 17986 18261 18878
CHF 32079 32461 33102
CNY 0 3836 3930
EUR 29433 29654 30740
GBP 34300 34691 35629
HKD 0 3221 3424
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14698 15294
SGD 19814 20096 20672
THB 707 771 825
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26463
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,083 26,083 26,463
USD(1-2-5) 25,040 - -
USD(10-20) 25,040 - -
EUR 29,630 29,654 31,066
JPY 159.14 159.43 169.03
GBP 34,556 34,650 35,845
AUD 17,937 18,002 18,679
CAD 18,223 18,282 18,956
CHF 32,423 32,524 33,481
SGD 19,968 20,030 20,819
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,286 3,296 3,434
KRW 15.88 16.56 18.02
THB 756.58 765.92 819.7
NZD 14,728 14,865 15,307
SEK - 2,683 2,778
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,637 2,730
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.26 - 6,822.81
TWD 743.74 - 900.92
SAR - 6,885.97 7,252.22
KWD - 83,123 88,435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,463
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,480 34,618 35,647
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,163 32,292 33,226
JPY 158.96 159.60 167.50
AUD 17,863 17,935 18,529
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 773 776 812
CAD 18,203 18,276 18,845
NZD 14,742 15,279
KRW 16.34 17.96
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26463
AUD 17889 17989 18914
CAD 18186 18286 19302
CHF 32338 32368 33950
CNY 3816.3 3841.3 3976.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29641 29671 31394
GBP 34613 34663 36421
HKD 0 3355 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14821 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20847
THB 0 738.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14840000 14840000 15140000
SBJ 13000000 13000000 15140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/07/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80