Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/11: Lãi suất liên ngân hàng lại vượt 6%, tỷ giá tự do leo dốc 7 tuần

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 3 - 7/11 cho thấy, tỷ giá trung tâm “đổi chiều” sau 5 tuần giảm, trong khi tỷ giá tự do tiếp tục leo thang tuần thứ 7 liên tiếp, tăng hơn 8% so với đầu năm. Lãi suất liên ngân hàng bật tăng vượt 6% phản ánh căng thẳng thanh khoản, buộc Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 56.000 tỷ đồng hỗ trợ.
aa

Thị trường tiền tệ tháng 10: Tỷ giá “chợ đen” vẫn căng, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 39.000 tỷ đồng

Chính sách tài khóa vững vàng "chèo lái" tăng trưởng khi tiền tệ dần cạn dư địa
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/10: Bán USD hạ tỷ giá, bơm ròng hơn 70.000 tỷ đồng tiếp sức thanh khoản

Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ngày 7/11 ở 25.103 VND/USD, tăng nhẹ 3 đồng so với ngày hôm qua. Với biên độ dao động 5%, tỷ giá giao dịch tại các ngân hàng thương mại hiện nằm trong khoảng 23.848 - 26.358 VND/USD. Tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá mua - bán tham khảo được điều chỉnh lên khoảng 23.898 - 26.308 VND/USD.

Tỷ giá trung tâm “đổi chiều”, tự do leo thang tuần thứ 7 liên tiếp

Tính chung tuần qua từ ngày 3/11 đến ngày 7/11, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố nhích tăng tổng cộng 10 đồng, lên 25.103 VND/USD, sau 5 tuần liên tiếp sụt giảm.

Tại các ngân hàng thương mại, xu hướng chung là giảm chiều mua vào, song tăng nhẹ chiều bán ra theo tỷ giá trung tâm. Theo đó, tỷ giá USD tại Vietcombank niêm yết ở mức 26.088 - 26.358 VND/USD; BIDV là 26.118 - 26.358 VND/USD, cùng giảm 9 đồng ở chiều mua nhưng tăng 11 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước.

Tuần qua (3–7/11), tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 10 đồng lên 25.103 VND/USD, chấm dứt chuỗi 5 tuần giảm liên tiếp. Tỷ giá tại các ngân hàng thương mại điều chỉnh trái chiều, trong khi thị trường tự do tiếp tục tăng tuần thứ 7 nhưng đ

Đáng chú ý, tỷ giá thị trường tự do nối dài tuần tăng thứ 7, giao dịch quanh 27.770 - 27.850 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng 50 đồng cả hai chiều so với tuần trước, nâng mức tăng lên 1.410 đồng suốt những tuần vừa qua. Dù vậy, mức tăng thu hẹp rõ rệt so với đà leo dốc suốt 6 tuần trước đó.

Tuần qua từ ngày 3 - 7/11, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 10 đồng lên 25.103 VND/USD, chấm dứt chuỗi 5 tuần giảm liên tiếp. Tỷ giá tại các ngân hàng thương mại điều chỉnh trái chiều, trong khi thị trường tự do tiếp tục tăng tuần thứ 7, tương ứng mức tăng 1.410 đồng, nhưng đà leo dốc đã chậm lại rõ rệt.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với rổ tiền tệ chủ chốt, trải qua một tuần tăng vượt mốc 100 điểm, song hạ nhiệt cuối tuần và giảm còn 99,66 điểm.

Trong báo cáo cập nhật thị trường đầu ngày 7/11, Khối Thị trường Tài chính - Ngân hàng ACB cho rằng, đồng USD có tín hiệu suy yếu trở lại trên thị trường thế giới khi những tác động từ đợt đóng cửa Chính phủ Mỹ dài nhất từ trước đến nay dần được phản ánh lên nền kinh tế và khả năng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tiến hành thêm một đợt cắt giảm lãi suất trong tháng 12 vẫn khá cao (70%).

Với diễn biến các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR tại Vietcombank niêm yết ở 29.580 - 31.139 VND/EUR, BIDV là 29.928 - 31.112 VND/EUR, cùng giảm mạnh 70 - 90 đồng mỗi chiều.

Còn tỷ giá GBP được Vietcombank công bố ở 33.653 - 35.082 VND/GBP, BIDV 34.116 - 35.038 VND/GBP, giảm khoảng 50 - 70 đồng...

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho rằng, việc đồng USD duy trì vị thế trong tháng được hỗ trợ, bởi đà suy yếu của đồng Yên khi thị trường lo ngại về khả năng chính phủ mới sẽ triển khai các gói kích thích kinh tế lớn trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, đồng EUR cũng chịu sức ép từ việc Thủ tướng Pháp đệ đơn từ chức sau chưa đầy một tháng kể từ khi được bổ nhiệm, làm dấy lên lo ngại về tình trạng chính trị của nền kinh tế lớn thứ hai trong khu vực Eurozone. Việc này, cùng với phát biểu của Chủ tịch Fed khi ông cho rằng khả năng giảm thêm lãi suất tại cuộc họp tháng 12 không phải là điều chắc chắn, đã hỗ trợ đáng kể cho đà tăng của chỉ số DXY.

Lãi suất liên ngân hàng lại vượt 6%, bơm ròng 56.000 đồng tiếp thanh khoản

Theo nhóm phân tích MBS, diễn biến tỷ giá trên kênh chính thức hạ nhiệt diễn ra trong bối cảnh đồng nội tệ được hỗ trợ một phần nhờ việc chênh lệch lãi suất VND-USD duy trì trạng thái dương khi lãi suất liên ngân hàng trong tháng 10/2025 liên tục neo ở mức cao trên 4%, thậm chí đã chạm đỉnh 2 tháng ở mức 6,1% vào ngày 22/10.

Tuần qua (3–7/11), tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 10 đồng lên 25.103 VND/USD, chấm dứt chuỗi 5 tuần giảm liên tiếp. Tỷ giá tại các ngân hàng thương mại điều chỉnh trái chiều, trong khi thị trường tự do tiếp tục tăng tuần thứ 7 nhưng đ
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/11: Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/11: Lãi suất liên ngân hàng lại vượt 6%, tỷ giá tự do leo dốc 7 tuần. Ảnh minh hoạ.

Kỳ vọng Fed hạ lãi suất tháng 12, hạ áp lực tỷ giá

"Việc Fed giảm lãi suất trong tháng 9, tháng 10 và được kỳ vọng sẽ tiếp tục giảm thêm 25 điểm cơ bản trong tháng 12, nâng tổng mức giảm năm nay lên 75 điểm cơ bản, sẽ là yếu tố giúp hạ nhiệt áp lực tỷ giá USD/VND đến cuối năm. Đồng thời, cũng sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng Nhà nước duy trì chính sách nới lỏng và giữ môi trường lãi suất thấp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế" - nhóm phân tích MBS kỳ vọng.

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước trong tháng 10 cũng tiếp tục thực hiện 2 đợt bán USD thông qua các hợp đồng kỳ hạn 180 ngày (có hủy ngang) cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm với giá bán 26.550 VND/USD, qua đó phần nào giúp giảm áp lực lên tỷ giá.

Trái ngược lại, tỷ giá trên thị trường tự do tăng mạnh 4,7% trong tháng lên mức 27.825 VND/USD (tăng 8,1% so với đầu năm). Mức tăng này được cho là do chênh lệch giá vàng trong nước và quốc tế nới rộng khiến làm tăng nhu cầu nắm giữ USD trên thị trường phi chính thức.

Trước diễn biến này, Ngân hàng Nhà nước vào ngày 24/10 đã có văn bản gửi Bộ Công an, Bộ Công thương và Thanh tra Chính phủ tăng cường phối hợp kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối.

Về diễn biến trên thị trường 2, lãi suất liên ngân hàng đồng loạt tăng trở lại ở hầu hết các kỳ hạn, phản ánh căng thẳng thanh khoản hệ thống chưa hạ nhiệt.

Cụ thể, đến ngày 7/11, lãi suất qua đêm đạt 5,97%, tăng mạnh 1,52 điểm phần trăm so với cuối tuần trước (4,45%). Các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần lần lượt ở mức 6,06% và 5,99%, tăng tương ứng 1,08 và 0,72 điểm phần trăm. Kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng tiếp đà tăng lên 6,05% và 6,42%, tương ứng tăng 0,56 điểm phần trăm và 0,44 điểm phần trăm.

Trong báo cáo mới đây của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), nhóm phân tích cho rằng, để đảm bảo thanh khoản trong bối cảnh không phát hành nhiều giấy tờ có giá và huy động tiền gửi tăng chậm, các ngân hàng thương mại tăng cường đáng kể hoạt động trên thị trường liên ngân hàng (480 nghìn tỷ đồng) và tiếp tục điều chỉnh tăng lãi suất huy động.

Theo đó, tiền gửi khách hàng, vốn là nguồn vốn cốt lõi, giảm đáng kể trong quý III/2025 so với các quý trước. Đây là nguyên nhân chính khiến tổng nguồn vốn huy động giảm còn 782 nghìn tỷ đồng, thấp hơn mức 1.171 nghìn tỷ đồng của quý IV/2024 và 1.054 nghìn tỷ đồng của quý I/2025. Do đó, vay liên ngân hàng tăng lên rõ rệt, phản ánh việc các ngân hàng phải tìm đến nguồn vốn ngắn hạn lẫn nhau để bù đắp sự thiếu hụt thanh khoản tạm thời.

Trên thị trường mở (OMO), tuần từ ngày 3-7/11 ghi nhận khối lượng trúng thầu tăng mạnh lên 128.667,63 tỷ đồng ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, với lãi suất duy trì 4%. Trong khi đó, chỉ có 72.193,65 tỷ đồng đến hạn trên kênh cầm cố, đưa tổng lượng vốn đang lưu hành qua kênh này lên mức cao 280.811,64 tỷ đồng.

Tính chung, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng mạnh 56.473,98 tỷ đồng tuần qua, tiếp đà 4 tuần bơm ròng rã, góp phần duy trì thanh khoản ổn định trong hệ thống ngân hàng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (6/6): Tỷ giá trung tâm tăng 4 tuần, DXY vượt 100 điểm khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/6): Tỷ giá trung tâm tăng 4 tuần, DXY vượt 100 điểm khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng ngày 6/6, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.147 đồng, tăng 9 đồng trong tuần, đánh dấu tuần tăng thứ 4 liên tiếp. Chỉ số DXY kết tuần tại 100,06 điểm, tăng 0,65% và lên mức cao nhất gần 2 tháng, sau khi dữ liệu việc làm Mỹ vượt kỳ vọng, qua đó, củng cố khả năng Fed có thể tăng 0,25 điểm phần trăm lãi suất vào tháng 12.
Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 1 - 5/6 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm áp sát 11%, doanh số vay mượn "nóng" vượt 1 triệu tỷ đồng. Ngân hàng Nhà nước nhanh chóng kích hoạt nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ trị giá 1 tỷ USD, bơm mạnh hỗ trợ thanh khoản. Khi áp lực hạ nhiệt, cơ quan điều hành quay lại hút ròng 26.372,11 tỷ đồng, trong bối cảnh tỷ giá vẫn tương đối ổn định.
Tỷ giá USD hôm nay (5/6): Tỷ giá trung tâm nhích lên 25.147 đồng, DXY duy trì vùng đỉnh 2 tháng

Tỷ giá USD hôm nay (5/6): Tỷ giá trung tâm nhích lên 25.147 đồng, DXY duy trì vùng đỉnh 2 tháng

(TBTCO) - Sáng ngày 5/6, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.147 đồng/USD, tăng 2 đồng phiên cuối tuần. Giá USD tự do phổ biến quanh 26.380 - 26.410 VND/USD, tương đương mức giao dịch tại ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY tăng 0,02% lên 99,43 điểm, duy trì gần mức cao 02 tháng, nhờ nhu cầu trú ẩn an toàn trước căng thẳng Mỹ - Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (4/6): Tỷ giá USD bán ra chạm trần, đồng Yên suy yếu chạm ngưỡng 160 JPY/USD

Tỷ giá USD hôm nay (4/6): Tỷ giá USD bán ra chạm trần, đồng Yên suy yếu chạm ngưỡng 160 JPY/USD

(TBTCO) - Sáng ngày 4/6, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.145 đồng, giữ nguyên so với phiên trước, trong khi giá USD bán ra tại các ngân hàng chạm trần 26.402 đồng. Chỉ số DXY duy trì ở mức 99,43 điểm khi nhu cầu nắm giữ USD tăng lên do căng thẳng Mỹ - Iran leo thang, trong khi đồng Yên Nhật suy yếu chạm ngưỡng 160 JPY/USD.
Tỷ giá USD hôm nay (3/6): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, DXY nhích nhẹ giữa bất định đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (3/6): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, DXY nhích nhẹ giữa bất định đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 3/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.145 đồng, tăng 4 đồng so với phiên trước, USD tự do bật tăng quanh mức 26.380 - 26.410 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 99,23 điểm, tăng nhẹ 0,01% khi căng thẳng Mỹ - Iran leo thang trở lại, làm gia tăng lo ngại về triển vọng duy trì lệnh ngừng bắn và đàm phán hòa bình.
Tỷ giá USD hôm nay (2/6): USD nhích nhẹ giữa lo ngại căng thẳng tại eo biển Hormuz và Bab el-Mandeb

Tỷ giá USD hôm nay (2/6): USD nhích nhẹ giữa lo ngại căng thẳng tại eo biển Hormuz và Bab el-Mandeb

(TBTCO) - Sáng ngày 2/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.141 đồng, tăng 3 đồng, trong khi chỉ số DXY tăng nhẹ lên 99,21 điểm. Thị trường tài chính toàn cầu tiếp tục theo dõi sát diễn biến địa chính trị tại Trung Đông, đặc biệt là nguy cơ Iran và các đồng minh phong tỏa eo biển Hormuz, mở rộng căng thẳng sang eo biển Bab el-Mandeb.
VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Dù thị trường đang đặt cược khoảng 50% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào cuối năm, nhưng Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, kịch bản này khó xảy ra và mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới, do áp lực tỷ giá, mức chênh lệch hoán đổi VND - USD vẫn cao và nguồn tiền gửi Kho bạc hỗ trợ thanh khoản khá hạn chế.
Tỷ giá USD hôm nay (1/6): USD trong nước lùi nhẹ, DXY tăng trở lại giữa loạt tín hiệu từ Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (1/6): USD trong nước lùi nhẹ, DXY tăng trở lại giữa loạt tín hiệu từ Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 1/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.138 đồng phiên đầu tháng, giảm 1 đồng so với phiên cuối tuần trước; trong khi DXY tăng nhẹ 0,15% lên 99,06 điểm đầu tuần. Thị trường quốc tế tiếp tục theo dõi diễn biến đàm phán hòa bình giữa Mỹ và Iran, dù hai bên được cho là vẫn còn nhiều bất đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
Kim TT/AVPL 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
Nguyên Liệu 99.99 13,500 ▼300K 13,700 ▼300K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▼500K 13,650 ▼300K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,500 ▼300K 14,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,450 ▼300K 13,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,380 ▼300K 13,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 135,000 ▼3800K 140,000 ▼3800K
Hà Nội - PNJ 135,000 ▼3800K 140,000 ▼3800K
Đà Nẵng - PNJ 135,000 ▼3800K 140,000 ▼3800K
Miền Tây - PNJ 135,000 ▼3800K 140,000 ▼3800K
Tây Nguyên - PNJ 135,000 ▼3800K 140,000 ▼3800K
Đông Nam Bộ - PNJ 135,000 ▼3800K 140,000 ▼3800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
Miếng SJC Nghệ An 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
Miếng SJC Thái Bình 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,500 ▼380K 14,000 ▼380K
NL 99.90 13,200 ▼250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250 ▼250K
Trang sức 99.9 13,190 ▼380K 13,890 ▼380K
Trang sức 99.99 13,200 ▼380K 13,900 ▼380K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 135 ▼1253K 14,002 ▼380K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 135 ▼1253K 14,003 ▼380K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,348 ▼38K 1,398 ▼38K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,348 ▼38K 1,399 ▼38K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,328 ▼38K 1,383 ▼38K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,931 ▼3762K 136,931 ▼3762K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,385 ▼2851K 103,885 ▼2851K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,703 ▼2585K 94,203 ▼2585K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,021 ▲67287K 84,521 ▲75837K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,287 ▼2216K 80,787 ▼2216K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,327 ▼1585K 57,827 ▼1585K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 135 ▼1253K 140 ▼1298K
Cập nhật: 10/06/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17950 18225 18800
CAD 18335 18611 19226
CHF 32281 32664 33310
CNY 0 3843 3936
EUR 29741 29963 31037
GBP 34403 34795 35725
HKD 0 3227 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14998 15585
SGD 19894 20176 20748
THB 714 777 830
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,927 29,951 31,258
JPY 160.01 160.3 169.31
GBP 34,659 34,753 35,807
AUD 18,202 18,268 18,886
CAD 18,556 18,616 19,225
CHF 32,614 32,715 33,553
SGD 20,070 20,132 20,842
CNY - 3,820 3,951
HKD 3,298 3,308 3,433
KRW 16.02 16.71 18.11
THB 763.79 773.22 824.62
NZD 15,016 15,155 15,545
SEK - 2,737 2,823
DKK - 4,004 4,129
NOK - 2,724 2,810
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,062.88 - 6,822.83
TWD 753.2 - 908.92
SAR - 6,904.75 7,244.91
KWD - 83,549 88,550
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26125 26125 26410
AUD 18136 18236 19167
CAD 18519 18619 19630
CHF 32524 32554 34145
CNY 3824.8 3849.8 3985.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29922 29952 31678
GBP 34698 34748 36516
HKD 0 3355 0
JPY 160.66 161.16 171.67
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15106 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20058 20188 20911
THB 0 742.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13500000 13500000 14000000
SBJ 12000000 12000000 14000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,195 18,295 19,408
EUR 30,080 30,080 31,489
CAD 18,469 18,569 19,877
SGD 20,152 20,302 20,861
JPY 161.16 162.66 167.22
GBP 34,616 34,966 35,828
XAU 13,878,900 0 14,381,100
CNY 0 3,737 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80