Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/11: Lãi suất liên ngân hàng lại vượt 6%, tỷ giá tự do leo dốc 7 tuần

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 3 - 7/11 cho thấy, tỷ giá trung tâm “đổi chiều” sau 5 tuần giảm, trong khi tỷ giá tự do tiếp tục leo thang tuần thứ 7 liên tiếp, tăng hơn 8% so với đầu năm. Lãi suất liên ngân hàng bật tăng vượt 6% phản ánh căng thẳng thanh khoản, buộc Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 56.000 tỷ đồng hỗ trợ.
aa

Thị trường tiền tệ tháng 10: Tỷ giá “chợ đen” vẫn căng, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 39.000 tỷ đồng

Chính sách tài khóa vững vàng "chèo lái" tăng trưởng khi tiền tệ dần cạn dư địa
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/10: Bán USD hạ tỷ giá, bơm ròng hơn 70.000 tỷ đồng tiếp sức thanh khoản

Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ngày 7/11 ở 25.103 VND/USD, tăng nhẹ 3 đồng so với ngày hôm qua. Với biên độ dao động 5%, tỷ giá giao dịch tại các ngân hàng thương mại hiện nằm trong khoảng 23.848 - 26.358 VND/USD. Tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá mua - bán tham khảo được điều chỉnh lên khoảng 23.898 - 26.308 VND/USD.

Tỷ giá trung tâm “đổi chiều”, tự do leo thang tuần thứ 7 liên tiếp

Tính chung tuần qua từ ngày 3/11 đến ngày 7/11, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố nhích tăng tổng cộng 10 đồng, lên 25.103 VND/USD, sau 5 tuần liên tiếp sụt giảm.

Tại các ngân hàng thương mại, xu hướng chung là giảm chiều mua vào, song tăng nhẹ chiều bán ra theo tỷ giá trung tâm. Theo đó, tỷ giá USD tại Vietcombank niêm yết ở mức 26.088 - 26.358 VND/USD; BIDV là 26.118 - 26.358 VND/USD, cùng giảm 9 đồng ở chiều mua nhưng tăng 11 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước.

Tuần qua (3–7/11), tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 10 đồng lên 25.103 VND/USD, chấm dứt chuỗi 5 tuần giảm liên tiếp. Tỷ giá tại các ngân hàng thương mại điều chỉnh trái chiều, trong khi thị trường tự do tiếp tục tăng tuần thứ 7 nhưng đ

Đáng chú ý, tỷ giá thị trường tự do nối dài tuần tăng thứ 7, giao dịch quanh 27.770 - 27.850 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng 50 đồng cả hai chiều so với tuần trước, nâng mức tăng lên 1.410 đồng suốt những tuần vừa qua. Dù vậy, mức tăng thu hẹp rõ rệt so với đà leo dốc suốt 6 tuần trước đó.

Tuần qua từ ngày 3 - 7/11, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 10 đồng lên 25.103 VND/USD, chấm dứt chuỗi 5 tuần giảm liên tiếp. Tỷ giá tại các ngân hàng thương mại điều chỉnh trái chiều, trong khi thị trường tự do tiếp tục tăng tuần thứ 7, tương ứng mức tăng 1.410 đồng, nhưng đà leo dốc đã chậm lại rõ rệt.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với rổ tiền tệ chủ chốt, trải qua một tuần tăng vượt mốc 100 điểm, song hạ nhiệt cuối tuần và giảm còn 99,66 điểm.

Trong báo cáo cập nhật thị trường đầu ngày 7/11, Khối Thị trường Tài chính - Ngân hàng ACB cho rằng, đồng USD có tín hiệu suy yếu trở lại trên thị trường thế giới khi những tác động từ đợt đóng cửa Chính phủ Mỹ dài nhất từ trước đến nay dần được phản ánh lên nền kinh tế và khả năng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tiến hành thêm một đợt cắt giảm lãi suất trong tháng 12 vẫn khá cao (70%).

Với diễn biến các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR tại Vietcombank niêm yết ở 29.580 - 31.139 VND/EUR, BIDV là 29.928 - 31.112 VND/EUR, cùng giảm mạnh 70 - 90 đồng mỗi chiều.

Còn tỷ giá GBP được Vietcombank công bố ở 33.653 - 35.082 VND/GBP, BIDV 34.116 - 35.038 VND/GBP, giảm khoảng 50 - 70 đồng...

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho rằng, việc đồng USD duy trì vị thế trong tháng được hỗ trợ, bởi đà suy yếu của đồng Yên khi thị trường lo ngại về khả năng chính phủ mới sẽ triển khai các gói kích thích kinh tế lớn trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, đồng EUR cũng chịu sức ép từ việc Thủ tướng Pháp đệ đơn từ chức sau chưa đầy một tháng kể từ khi được bổ nhiệm, làm dấy lên lo ngại về tình trạng chính trị của nền kinh tế lớn thứ hai trong khu vực Eurozone. Việc này, cùng với phát biểu của Chủ tịch Fed khi ông cho rằng khả năng giảm thêm lãi suất tại cuộc họp tháng 12 không phải là điều chắc chắn, đã hỗ trợ đáng kể cho đà tăng của chỉ số DXY.

Lãi suất liên ngân hàng lại vượt 6%, bơm ròng 56.000 đồng tiếp thanh khoản

Theo nhóm phân tích MBS, diễn biến tỷ giá trên kênh chính thức hạ nhiệt diễn ra trong bối cảnh đồng nội tệ được hỗ trợ một phần nhờ việc chênh lệch lãi suất VND-USD duy trì trạng thái dương khi lãi suất liên ngân hàng trong tháng 10/2025 liên tục neo ở mức cao trên 4%, thậm chí đã chạm đỉnh 2 tháng ở mức 6,1% vào ngày 22/10.

Tuần qua (3–7/11), tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 10 đồng lên 25.103 VND/USD, chấm dứt chuỗi 5 tuần giảm liên tiếp. Tỷ giá tại các ngân hàng thương mại điều chỉnh trái chiều, trong khi thị trường tự do tiếp tục tăng tuần thứ 7 nhưng đ
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/11: Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/11: Lãi suất liên ngân hàng lại vượt 6%, tỷ giá tự do leo dốc 7 tuần. Ảnh minh hoạ.

Kỳ vọng Fed hạ lãi suất tháng 12, hạ áp lực tỷ giá

"Việc Fed giảm lãi suất trong tháng 9, tháng 10 và được kỳ vọng sẽ tiếp tục giảm thêm 25 điểm cơ bản trong tháng 12, nâng tổng mức giảm năm nay lên 75 điểm cơ bản, sẽ là yếu tố giúp hạ nhiệt áp lực tỷ giá USD/VND đến cuối năm. Đồng thời, cũng sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng Nhà nước duy trì chính sách nới lỏng và giữ môi trường lãi suất thấp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế" - nhóm phân tích MBS kỳ vọng.

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước trong tháng 10 cũng tiếp tục thực hiện 2 đợt bán USD thông qua các hợp đồng kỳ hạn 180 ngày (có hủy ngang) cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm với giá bán 26.550 VND/USD, qua đó phần nào giúp giảm áp lực lên tỷ giá.

Trái ngược lại, tỷ giá trên thị trường tự do tăng mạnh 4,7% trong tháng lên mức 27.825 VND/USD (tăng 8,1% so với đầu năm). Mức tăng này được cho là do chênh lệch giá vàng trong nước và quốc tế nới rộng khiến làm tăng nhu cầu nắm giữ USD trên thị trường phi chính thức.

Trước diễn biến này, Ngân hàng Nhà nước vào ngày 24/10 đã có văn bản gửi Bộ Công an, Bộ Công thương và Thanh tra Chính phủ tăng cường phối hợp kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối.

Về diễn biến trên thị trường 2, lãi suất liên ngân hàng đồng loạt tăng trở lại ở hầu hết các kỳ hạn, phản ánh căng thẳng thanh khoản hệ thống chưa hạ nhiệt.

Cụ thể, đến ngày 7/11, lãi suất qua đêm đạt 5,97%, tăng mạnh 1,52 điểm phần trăm so với cuối tuần trước (4,45%). Các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần lần lượt ở mức 6,06% và 5,99%, tăng tương ứng 1,08 và 0,72 điểm phần trăm. Kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng tiếp đà tăng lên 6,05% và 6,42%, tương ứng tăng 0,56 điểm phần trăm và 0,44 điểm phần trăm.

Trong báo cáo mới đây của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), nhóm phân tích cho rằng, để đảm bảo thanh khoản trong bối cảnh không phát hành nhiều giấy tờ có giá và huy động tiền gửi tăng chậm, các ngân hàng thương mại tăng cường đáng kể hoạt động trên thị trường liên ngân hàng (480 nghìn tỷ đồng) và tiếp tục điều chỉnh tăng lãi suất huy động.

Theo đó, tiền gửi khách hàng, vốn là nguồn vốn cốt lõi, giảm đáng kể trong quý III/2025 so với các quý trước. Đây là nguyên nhân chính khiến tổng nguồn vốn huy động giảm còn 782 nghìn tỷ đồng, thấp hơn mức 1.171 nghìn tỷ đồng của quý IV/2024 và 1.054 nghìn tỷ đồng của quý I/2025. Do đó, vay liên ngân hàng tăng lên rõ rệt, phản ánh việc các ngân hàng phải tìm đến nguồn vốn ngắn hạn lẫn nhau để bù đắp sự thiếu hụt thanh khoản tạm thời.

Trên thị trường mở (OMO), tuần từ ngày 3-7/11 ghi nhận khối lượng trúng thầu tăng mạnh lên 128.667,63 tỷ đồng ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, với lãi suất duy trì 4%. Trong khi đó, chỉ có 72.193,65 tỷ đồng đến hạn trên kênh cầm cố, đưa tổng lượng vốn đang lưu hành qua kênh này lên mức cao 280.811,64 tỷ đồng.

Tính chung, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng mạnh 56.473,98 tỷ đồng tuần qua, tiếp đà 4 tuần bơm ròng rã, góp phần duy trì thanh khoản ổn định trong hệ thống ngân hàng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (23/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (23/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 23/3 tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.090 VND, tăng 5 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, Chỉ số USD Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 99,5 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm,  "chợ đen" biến động trái chiều

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm, "chợ đen" biến động trái chiều

Sáng ngày 22/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số USD Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm tuần 0,86%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 21/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,27%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 16 - 20/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 84.335,95 tỷ đồng, nâng quy mô hút ròng 4 tuần lên gần 240.000 tỷ đồng, dù vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn ổn định, phản ánh thanh khoản hệ thống cải thiện. Đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn nới lỏng khiến tỷ giá USD tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Sáng ngày 20/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND, tăng 13 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,88%, hiện ở mức 99,23 điểm.
MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

Theo nhận định của Chứng khoán MB (MBS), bất ổn khu vực Trung Đông gia tăng rủi ro lạm phát và tỷ giá trong vài tháng tới. Tỷ giá được dự báo tăng 2,5 - 3%, trong khi lạm phát có thể lên 4 - 4,3%. Chi phí vận chuyển tăng mạnh, cộng hưởng xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh USD phục hồi, cũng gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

(TBTCO) - Khảo sát ngày 18/3 tại gần 50 ngân hàng trong và ngoài nước cho thấy, cuộc đua lãi suất vô cùng sôi động, trong đó, kỳ hạn 6 tháng là “tâm điểm” cạnh tranh khi có ngân hàng đẩy lãi suất lên 7,2%/năm, biên độ tăng lên tới 2,1 điểm phần trăm. Đáng chú ý, lãi suất 24 tháng tại nhiều ngân hàng thấp hơn kỳ hạn 6 tháng, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn.
Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS nhấn mạnh, cần đặc biệt theo dõi diễn biến tỷ giá và thanh khoản hệ thống ngân hàng để đánh giá xu hướng lãi suất. Bối cảnh tỷ giá thuận lợi và mặt bằng thanh khoản dồi dào sẽ là nền tảng phù hợp để Ngân hàng Nhà nước mở rộng mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở giai đoạn nửa sau năm 2026.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80