Tăng trưởng GRDP 8% của Hà Nội là mục tiêu đầy áp lực

Khánh Linh
(TBTCO) - Trong 6 năm còn lại, GRDP trung bình phải đạt 10% thì mới đạt tăng trưởng 8,5% cho giai đoạn 2021-2030 (theo quy hoạch phát triển thành phố). Đây là mục tiêu đầy thách thức và áp lực với Hà Nội.
aa
Phát huy các nguồn lực, Hà Nội quyết tâm đạt tăng trưởng 8%

Ngày 7/3, UBND TP. Hà Nội tổ chức hội thảo khoa học thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao nhất trong năm 2025 và phấn đấu 2 con số giai đoạn 2026-2030.

GRDP Hà Nội luôn tăng cao nhưng chưa thật sự vượt trội

Phát biểu tại hội thảo, Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Trần Sỹ Thanh cho biết, năm 2025 thành phố đặt mục tiêu tăng trưởng là 8%, trong bối cảnh mới còn nhiều thách thức, đây là một bài toán lớn đặt ra cho thành phố.

Ông Trần Sỹ Thanh cho biết, lịch sử của Hà Nội đã có những giai đoạn tăng trưởng hơn 8%, trong đó cao nhất năm 2022 là 8,29%, đóng góp tích cực cho tăng trưởng cả nước. Hiện nay Hà Nội vẫn còn dư địa phát triển như nguồn lực, cơ chế... ngoài ra thành phố còn có thêm Luật Thủ đô 2024 và 2 quy hoạch lớn...

Tuy nhiên, Hà Nội vẫn còn những hạn chế và cần thêm lời giải để góp phần tăng trưởng năm 2025 hơn 8%, tạo đà bước vào giai đoạn mới với tham vọng 10% là bài toán lớn.

Hà Nội phấn đấu đạt mức tăng trưởng hai con số trong 5 năm tới
Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Trần Sỹ Thanh phát biểu tại hội thảo.

Vì vậy, "với sự cầu thị và khiêm tốn, thành phố muốn lắng nghe ý kiến của các chuyên gia và nhà khoa học, lắng nghe những ý kiến có tính hệ thống, phân tích giúp Hà Nội chắt lọc, lựa chọn tìm ra những điểm mới, đột phá mới, động lực mới để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số"- ông Trần Sỹ Thanh nhấn mạnh.

Tại hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý đã nêu ý kiến, đề xuất các giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao nhất trong năm 2025 và phấn đấu đạt 2 con số giai đoạn 2026-2030, góp phần thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030.

Chuyên gia kinh tế TS. Nguyễn Đình Cung cho biết, tăng trưởng GRDP của Hà Nội luôn cao hơn cả nước, trừ năm 2024, nhưng chưa vượt trội. 14 năm qua, có 3 năm tăng trưởng trên 8% (2015 là 8,07%, 2019: 8,13%, và 2022: 9,37%). Như vậy, tăng trưởng GRDP 8% trở lên đã từng đạt được. Tuy vậy, tăng trưởng GRDP đang giảm dần, trung bình 2011-2015 đạt 7,35%; 2016-2020 là 7% và 2021-2024 là 6,44%. Trong 6 năm còn lại, trung bình phải đạt 10% thì mới đạt tăng trưởng 8,5% cho giai đoạn 2021-2030 (theo quy hoạch phát triển thành phố). Đây là mục tiêu đầy thách thức và áp lực với Hà Nội.

Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo/GRDP của Hà Nội là rất thấp, duy trừ ở mức khoảng 15% từ 2012 đến nay; trong khi đó, đầu tư vào ngành này/tổng đầu tư xã hội lại giảm, hiện chỉ chiếm hơn 9%...

Bên cạnh đó, cơ cấu kinh tế Hà Nội tương tự như quốc gia, đã phát triển cơ cấu hậu công nghiệp, khi dịch vụ chiếm đến 66% GRDP; công nghiệp và xây dựng chỉ 21%, trong đó, đặc biệt công nghiệp chế tạo chỉ chiếm khoảng 15%. Cơ cấu kinh tế hiện nay đang thực sự là rào cản lớn đối với tăng trưởng cao trong giai đoạn tiếp theo. Tỷ trọng đầu tư xã hội của Hà Nội/GRDP ở mức rất cao (gần 39%, so với cả nước khoảng 34%), và tốc độ tăng đầu tư cũng khá cao trong suốt 10 năm qua. Như vậy, số vốn đầu tư Hà Nội huy động được là rất lớn, nhưng hiệu quả đầu tư lại rất thấp.

Ngoài ra, các chuyên gia cũng chỉ ra một số hạn chế, như: Đầu tư nhà nước còn rất lớn, chiếm khoảng 38% tổng vốn đầu tư; khu vực tư nhân chiếm khoảng 56%; tỷ trọng FDI (đầu tư nước ngoài) tương đối thấp; vốn FDI đăng ký mới vào Hà Nội từ 2020 đến nay đều rất thấp, so với Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh và một số địa phương trong vùng Đồng bằng sông Hồng...

Giải phóng nguồn lực từ gỡ vướng cho các dự án trọng điểm

Bàn về giải pháp đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8% năm 2025, ông Nguyễn Đình Cung cho hay, về giải pháp trước mắt thành phố cần đẩy mạnh giải ngân đầu tư công. Các đơn vị của thành phố phối hợp, thúc đẩy giải ngân đúng, đủ vốn đầu tư Trung ương trên địa bàn Hà Nội, hoàn thành đúng hạn các dự án đầu tư tương ứng do Trung ương quản lý.

Hà Nội phấn đấu đạt mức tăng trưởng hai con số trong 5 năm tới
TS. Nguyễn Đình Cung phát biểu ý kiến tại hội thảo.

Đặc biệt tháo gỡ ngay các vướng mắc pháp lý cho các dự án, giải phóng nguồn lực đang “đọng chết”, tạo sản phẩm cho xã hội, góp phần tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố...

Bên cạnh đó, từng sở ngành rà soát, đánh giá ngay thực trạng phát triển các ngành dịch vụ thuộc phạm vi quản lý và tận dụng hết các cơ hội, tiềm năng sẵn có để ít nhất duy trì tăng trưởng cao như hiện nay đối với dịch vụ đã có tăng trưởng cao và có vai trò lớn trong kinh tế Thủ đô, gồm thương mại, tài chính ngân hàng, vận tải, kho bãi…

Cùng với đó, thúc đẩy tăng trưởng thêm ít nhất một điểm % đối với các dịch vụ có tăng trưởng mức trung bình như giáo dục, đào tạo và khoa công công nghệ. Phục hồi tăng trưởng của dịch vụ y tế đạt mức tăng trưởng lên mức khoảng 7-8% năm 2025 và cao hơn trong các năm sau.

Về giải pháp trung và dài hạn, thành phố cần đầu tư phát triển hạ tầng và thông minh hoá chế độ quản lý, giải quyết cơ bản tắc nghẽn giao thông đô thị; thông minh hoá hệ thống giao thông đô thị. Sớm triển khai đầu tư các dự án hạ tầng chiến lược, nhất là hạ tầng giao thông đô thị đã xác định trong quy hoạch phát triển Hà Nội 2021-2030, tầm nhìn 2050; gồm cả các dự án do Trung ương quản lý trên địa bàn Hà Nội...

Táo bạo hơn, ông Nguyễn Đình Cung đề nghị cần khoán tăng trưởng cho các sở ngành và khoán thu ngân sách cho các quận huyện để góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới./.

Giai đoạn 5 năm 2025 – 2030, Đảng bộ TP. Hà Nội quyết tâm thực hiện các giải pháp tăng tốc, bứt phá phát triển và phấn đấu đạt mức tăng trưởng cao 10,5-11,0%, đẩy mạnh các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu) đồng thời thực hiện các giải pháp đột phá, tạo các động lực tăng trưởng mới.

Khánh Linh

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼550K 16,000 ▼550K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼550K 15,950 ▼550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼350K 16,950 ▼350K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼350K 16,900 ▼350K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼350K 16,880 ▼350K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,670 ▼600K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700 ▼600K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17742 18015 18591
CAD 18512 18789 19406
CHF 32581 32965 33609
CNY 0 3470 3830
EUR 29794 30066 31094
GBP 34338 34729 35663
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14925 15512
SGD 19981 20263 20791
THB 718 782 835
USD (1,2) 26082 0 0
USD (5,10,20) 26123 0 0
USD (50,100) 26151 26171 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80