Tăng trưởng tín dụng cao nhưng phải kiểm soát tốt nợ xấu

Hà My
(TBTCO) - TS. Cấn Văn Lực - chuyên gia kinh tế trưởng của BIDV cho rằng, tăng trưởng tín dụng quan trọng là phải đảm bảo chất lượng. Tăng trưởng nhanh, không kiểm soát tốt, có thể khiến nợ xấu tăng lên.
aa
Tăng trưởng tín dụng cao nhưng phải kiểm soát tốt nợ xấu
Hiện mức lãi suất đi vay của người dân và doanh nghiệp đã về mức khá thấp. Ảnh minh họa

PV: Để hỗ trợ cho mục tiêu tăng trưởng GDP 8% trong năm 2025, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng được đặt ra là 16%. Ông đánh giá như thế nào về mức tăng trưởng này?

Tăng trưởng tín dụng cao nhưng phải kiểm soát tốt nợ xấu

TS. Cấn Văn Lực: Trước hết, tôi xin lưu ý đây là chỉ tiêu mang tính định hướng, không phải bắt buộc tất cả. Kênh tín dụng ngân hàng chỉ chiếm khoảng 50% tổng lượng vốn cung ứng cho nền kinh tế, còn có nhiều nguồn vốn khác như đầu tư công, FDI, vốn huy động qua thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, nguồn vốn đầu tư tư nhân.

Sự đóng góp của yếu tố vốn cho tăng trưởng cũng chỉ chiếm đến 50%, còn 2 yếu tố khác chính là lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Vì vậy, để đảm bảo được mục tiêu tăng trưởng 8% trở lên thì đòi hỏi đồng bộ của nhiều yếu tố.

Về tín dụng, với mục tiêu tăng trưởng 16% như vậy, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng đã định hướng cần phải đẩy mạnh tín dụng vào những lĩnh vực ưu tiên, đặc biệt là các động lực tăng trưởng chính, như: xuất khẩu, đầu tư, tiêu dùng, hoặc theo ngành; bao gồm cả 3 ngành: công nghiệp, công nghiệp xây dựng và dịch vụ.

PV: Theo ông, mục tiêu này đặt ra những thách thức gì cho hệ thống ngân hàng tại Việt Nam? Liệu chúng ta có phải đánh đổi về an toàn hệ thống với mục tiêu này hay không?

TS. Cấn Văn Lực: Tôi cho rằng, thách thức lớn nhất hiện nay chính là khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Lãi suất không phải là vấn đề. Lãi suất thực tế về cơ bản đã giảm tương đối nhanh và mạnh trong thời gian vừa qua, nhất là dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và của NHNN. Hiện mức lãi suất đi vay của người dân và doanh nghiệp về cơ bản đã về một mức khá thấp so với trước dịch và thời kỳ thấp điểm.

Sớm luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14 về xử lý nợ xấu

Cần sớm luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về câu chuyện xử lý nợ xấu, để tạo hành lang pháp lý giúp cho xử lý nợ xấu được thông suốt hơn. Qua đó, tăng khả năng tiếp cận vốn của người dân, doanh nghiệp.

Thách thức thứ hai liên quan đến câu chuyện làm thế nào để huy động đầy đủ nguồn vốn để cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Thời gian vừa qua, lãi suất tiền gửi đang cố gắng điều tiết ở mức đi ngang và ổn định, không được tăng lên, thậm chí Thủ tướng còn yêu cầu giảm xuống. Rõ ràng, hệ thống các tổ chức tín dụng cần phải dùng nhiều kênh, nhiều cách và phải đa dạng hóa để có thể tiếp tục tăng khả năng thu hút lượng tiền gửi của người dân và doanh nghiệp, đảm bảo có đủ nguồn để cho vay.

Thách thức thứ ba là tăng trưởng tín dụng phải gắn với chất lượng tín dụng tức là tăng trưởng cao nhưng vẫn phải đảm bảo kiểm soát rủi ro tín dụng, đặc biệt liên quan đến nợ xấu. Các tổ chức tín dụng về cơ bản cũng đã kiểm soát chất lượng tín dụng tương đối tích cực trong thời gian vừa qua. Nhưng giai đoạn 2023 - 2024, nợ xấu đã tăng lên, cho nên rất cần quan tâm kiểm soát với rủi ro tín dụng, nợ xấu.

Thách thức cuối cùng chính là liên quan đến các chuẩn mực an toàn. Để tăng trưởng tín dụng cao như vậy thì các tổ chức tín dụng cần phải tăng vốn, nhất là vốn điều lệ. Điều này rất cần sự ủng hộ cũng như quyết định nhanh của Chính phủ và các bộ ngành có liên quan để các tổ chức tín dụng có thể tăng vốn kịp thời, qua đó mới tăng được khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, cũng như đảm bảo an toàn cho bản thân các tổ chức tín dụng.

PV: Vậy, nợ xấu liệu có nguy cơ tăng lên hay không, thưa ông?

TS. Cấn Văn Lực: Đương nhiên, khi tín dụng tăng trưởng nhanh, không kiểm soát tốt thì có thể nợ xấu sẽ bị tăng lên. Tuy nhiên, Chính phủ, Thủ tướng và NHNN cũng đã hết sức lưu ý đối với vấn đề này và bản thân các tổ chức tín dụng cũng hết sức quan tâm đến câu chuyện về kiểm soát rủi ro tín dụng.

Về cơ bản nợ xấu đã tăng lên trong năm vừa qua, nhưng vẫn trong tầm kiểm soát. Hiện nay, nếu tách nợ xấu của 5 ngân hàng cần kiểm soát đặc biệt, thì nợ xấu của hệ thống ngân hàng vẫn xoay quanh ở mức khoảng 2%, đây là mức có thể kiểm soát được.

Tuy nhiên, nợ xấu có khả năng mất vốn (nhóm 5) đã tăng lên tương đối nhanh trong thời gian vừa qua. Bên cạnh đó, nợ xấu tiềm ẩn cũng có thể có nguy cơ tăng lên, nhất là trong bối cảnh khi NHNN đã chấm dứt chính sách cho phép cơ cấu lại nợ và không chuyển nhóm nợ từ cuối 2024, trừ nhóm nợ có liên quan đến bão Yagi.

PV: Ông có khuyến nghị gì để thực hiện mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% trong năm 2025 mà vẫn đảm bảo được an toàn hệ thống ngân hàng?

TS. Cấn Văn Lực: Tôi đã phân tích, trước hết phải đảm bảo tăng trưởng tín dụng đều qua các tháng.

Tiếp đó, cần phải nắn tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, đặc biệt là các động lực tăng trưởng mà Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã yêu cầu. Đồng thời, cần phải đảm bảo tăng vốn cho các tổ chức tín dụng, nhất là các ngân hàng thương mại có yếu tố nhà nước. Bởi vì quá trình tăng vốn của các ngân hàng này thường rất mất thời gian. Bên cạnh đó, cũng cần phải đảm bảo huy động đủ vốn để đảm bảo khả năng thanh khoản của tổ chức tín dụng, tức là có đủ tiền để cho vay và không bị rủi ro về thanh khoản.

Cuối cùng, cần phải đẩy nhanh tiến độ cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, nhất là những tổ chức tín dụng yếu kém, để qua đó đảm bảo lành mạnh hóa hệ thống tổ chức tín dụng và bớt đi những cạnh tranh lãi suất không đáng có. Như thế mới đảm bảo được và giữ được ổn định mặt bằng lãi suất, tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và người dân.

PV: Xin cảm ơn ông!

Tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Việc tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Việt Nam trong thời gian qua được đánh giá là đã có những tiến bộ đáng kể. Thống kê cho thấy, vốn tín dụng cung cấp cho DNNVV của Việt Nam chiếm khoảng 20% tổng lượng vốn tín dụng của toàn nền kinh tế. Mức này cao hơn mức 18,7% của khu vực châu Á - Thái Bình Dương và cao hơn khá nhiều nước trong khu vực như Indonesia, Philippines. Tuy nhiên, mức này của Việt Nam cũng thấp hơn so với Thái Lan và một vài nước khác.

Theo TS. Cấn Văn Lực, để nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho các DNNVV, cần sự nỗ lực của cả hai bên. Trong đó, bản thân các tổ chức tài chính phải đa dạng hóa sản phẩm, tức là thiết kế những sản phẩm dịch vụ cho phù hợp hơn với từng nhóm đối tượng, sát hơn với nhu cầu, thị hiếu của doanh nghiệp, của người dân. Ngược lại, bản thân DNNVV cũng cần phải nỗ lực cố gắng vươn lên, hoàn chỉnh bài bản, công khai minh bạch hơn nữa và phải trung thực với các báo cáo tài chính của mình, đặc biệt là phải thượng tôn pháp luật. Làm được điều này sẽ tạo thuận lợi cho cả hai bên, cả bên cho vay là tổ chức tài chính, cũng như bên đi vay là các DNNVV.

Hà My

Đọc thêm

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước ít biến động. Vàng miếng giữ giá bán 143,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giảm nhẹ tại Bảo Tín Minh Châu.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Trong khuôn khổ chiến lược đồng bộ thương hiệu toàn cầu của Tập đoàn Daiichi Life, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) chính thức giới thiệu nhận diện thương hiệu mới từ ngày 01/10/2026. Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình mới của công ty trên hành trình hơn 19 năm phát triển tại Việt Nam.
Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,300 ▼200K 143,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 140,300 ▼200K 143,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 140,300 ▼200K 143,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 140,300 ▼200K 143,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 140,300 ▼200K 143,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,300 ▼200K 143,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,950 14,350
NL 99.99 13,300 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▼50K
Trang sức 99.9 13,660 14,260
Trang sức 99.99 13,670 14,270
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 05/10/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17568 17840 18416
CAD 17711 17985 18604
CHF 30684 31060 31702
CNY 0 3836 3932
EUR 28495 28712 29792
GBP 33576 33964 34901
HKD 0 3182 3385
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14231 14818
SGD 19771 20052 20622
THB 687 751 804
USD (1,2) 25739 0 0
USD (5,10,20) 25778 0 0
USD (50,100) 25806 25820 26190
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,815 25,815 26,195
USD(1-2-5) 24,783 - -
USD(10-20) 24,783 - -
EUR 28,557 28,580 29,936
JPY 160.35 160.64 170.37
GBP 33,791 33,882 35,054
AUD 17,770 17,834 18,510
CAD 17,902 17,959 18,619
CHF 30,971 31,067 31,978
SGD 19,894 19,956 20,740
CNY - 3,804 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.84 18.6 20.24
THB 736.8 745.9 798.17
NZD 14,242 14,374 14,801
SEK - 2,544 2,634
DKK - 3,831 3,966
NOK - 2,657 2,753
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,944.37 - 6,709.49
TWD 739.25 - 895.07
SAR - 6,807.85 7,171.9
KWD - 82,065 87,324
AED - 6,823 7,353
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,696 28,811 30,022
GBP 33,799 33,935 34,967
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,835 30,959 31,908
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,744 17,815 18,412
SGD 19,963 20,043 20,638
THB 755 758 796
CAD 17,902 17,974 18,571
NZD 14,344 14,900
KRW 18.65 20.64
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25820 26180
AUD 17747 17847 18770
CAD 17901 18001 19012
CHF 30954 30984 32566
CNY 3818.2 3843.2 3978.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28683 28713 30446
GBP 33888 33938 35693
HKD 0 3315 0
JPY 161.12 161.62 172.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14343 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19931 20061 20782
THB 0 716.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,692 25,812 26,170
USD20 25,662 25,812 26,170
USD1 25,642 25,812 26,925
AUD 17,739 17,839 18,947
EUR 28,465 28,565 30,221
CAD 17,800 17,900 19,206
SGD 19,986 20,136 20,690
JPY 161.61 163.11 168.65
GBP 33,740 33,890 35,220
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 754 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/10/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30