Tạo cầu nối giữa công trình xanh và nguồn vốn xanh

Thu Hương
(TBTCO) - Việt Nam cần khoảng 20 tỷ USD đầu tư xanh mỗi năm để thực hiện mục tiêu Net Zero vào năm 2050. Tuy nhiên, nhiều dự án công trình xanh vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn, đặt ra yêu cầu hoàn thiện tiêu chuẩn đánh giá, cơ chế tài chính và tăng cường kết nối giữa ESG với hệ sinh thái tài chính xanh.
aa

Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, nhu cầu huy động nguồn lực tài chính cho quá trình chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Theo ước tính, để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam cần khoảng 20 tỷ USD đầu tư xanh mỗi năm.

Tuy nhiên, dù sở hữu nhiều lợi thế như tài sản bảo đảm rõ ràng, khả năng đo lường hiệu quả đầu tư và hệ thống tiêu chuẩn đánh giá ngày càng hoàn thiện, lĩnh vực công trình xanh hiện vẫn chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn trong tổng dư nợ tín dụng xanh của quốc gia. Thực tế này cho thấy khả năng tiếp cận và hấp thụ các nguồn vốn xanh quy mô lớn của nhiều dự án vẫn còn không ít hạn chế.

Trong bối cảnh đó, vấn đề kết nối giữa các tiêu chuẩn ESG, công trình xanh và các nguồn vốn bền vững đang nhận được sự quan tâm ngày càng lớn. Đây cũng là nội dung được các chuyên gia, tổ chức tài chính, doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách trao đổi tại hội thảo “Tài chính Xanh cho Công trình Bền vững: Cầu nối giữa Báo cáo ESG và Nguồn vốn tại Việt Nam” diễn ra chiều 5/6. Các diễn giả thảo luận tập trung vào việc hoàn thiện các điều kiện, tiêu chí và cơ chế tài chính nhằm nâng cao khả năng tiếp cận vốn xanh cho các dự án công trình bền vững tại Việt Nam.

Tạo cầu nối giữa công trình xanh và nguồn vốn xanh
Các diễn giả thảo luận tại hội thảo “Tài chính Xanh cho Công trình Bền vững: Cầu nối giữa Báo cáo ESG và Nguồn vốn tại Việt Nam”. Ảnh: Thu Hương.

Mở đầu phiên tham luận, ThS. Tạ Đức Bình - Chuyên gia Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đã cung cấp bức tranh tổng quan về bối cảnh chính sách và xu hướng phát triển của thị trường tài chính xanh tại Việt Nam trong giai đoạn hướng tới mục tiêu Net Zero vào năm 2050.

Theo ông Bình, trong những năm gần đây, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện khung pháp lý cho tài chính xanh thông qua các chính sách về tăng trưởng xanh, thị trường carbon và đặc biệt là Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg về Danh mục phân loại xanh. Đây được xem là nền tảng quan trọng giúp chuẩn hóa các tiêu chí xác định dự án xanh, tạo cơ sở để các tổ chức tín dụng, nhà đầu tư và doanh nghiệp triển khai hoạt động huy động, phân bổ nguồn vốn theo định hướng phát triển bền vững.

Ông Richard Barnsley - Giám đốc cấp cao toàn quốc, Khối Khách hàng Doanh nghiệp của HSBC Việt Nam cho rằng, việc tích hợp các yếu tố môi trường và phát triển bền vững ngay từ giai đoạn thiết kế đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng tiếp cận và hấp thụ nguồn vốn xanh của doanh nghiệp. Việc chuẩn hóa dự án theo các tiêu chí xanh từ sớm cũng giúp quá trình thẩm định và giải ngân diễn ra thuận lợi hơn.

So với nhiều quốc gia trong khu vực ASEAN+3, Việt Nam đã hoàn thiện một trong những cấu phần quan trọng của hệ sinh thái tài chính xanh là khung phân loại xanh quốc gia. Tuy nhiên, để thúc đẩy dòng vốn xanh phát triển mạnh mẽ hơn, thị trường vẫn cần tiếp tục hoàn thiện các tiêu chuẩn phát hành trái phiếu xanh, cơ chế tài chính chuyển đổi cũng như hệ thống dữ liệu và công cụ đánh giá phục vụ hoạt động thẩm định đầu tư.

Từ góc độ tổ chức tín dụng, ông Richard Barnsley - Giám đốc cấp cao toàn quốc, Khối Khách hàng Doanh nghiệp của HSBC Việt Nam, đã chia sẻ về các tiêu chí mà ngân hàng áp dụng trong quá trình thẩm định và giải ngân đối với các dự án xanh. Theo ông, nguồn vốn xanh hiện tương đối dồi dào, song để tiếp cận được nguồn vốn này, các dự án cần đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và yêu cầu của tổ chức tài trợ vốn.

Một nội dung khác được các đại biểu trao đổi là vai trò của các hệ thống chứng nhận công trình xanh trong việc kết nối doanh nghiệp với các nguồn vốn bền vững. Bà Phan Thu Hằng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Hội đồng Công trình Xanh Việt Nam (VGBC), đồng thời là Giám đốc Phát triển bền vững của Saint-Gobain khu vực châu Á - Thái Bình Dương, cho biết các hệ thống chứng nhận công trình xanh như LOTUS có thể đóng vai trò là công cụ xác minh độc lập, giúp doanh nghiệp chứng minh hiệu quả môi trường và mức độ bền vững của dự án đối với các tổ chức tài chính.

Theo bà Hằng, các hệ thống chứng nhận này góp phần tạo cầu nối giữa công trình xanh, báo cáo ESG, phân loại xanh và các nguồn vốn bền vững, qua đó hỗ trợ chuẩn hóa tiêu chí đánh giá và tăng cường niềm tin của nhà đầu tư. Bà cũng cho biết các công trình xanh có thể giúp tiết kiệm trung bình từ 25% đến 60% năng lượng và từ 40% đến 50% lượng nước tiêu thụ, đồng thời có thời gian hoàn vốn đầu tư từ 2 đến 5 năm.

Những lợi ích về hiệu quả vận hành và tiết kiệm chi phí được đánh giá là các yếu tố quan trọng góp phần nâng cao sức hấp dẫn của công trình xanh đối với các tổ chức tài chính và nhà đầu tư dài hạn. Trong bối cảnh yêu cầu chuyển đổi xanh ngày càng trở nên cấp thiết, việc xây dựng cơ chế kết nối hiệu quả giữa các tiêu chuẩn ESG, hệ thống chứng nhận công trình xanh và các nguồn vốn bền vững được xem là một trong những điều kiện quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính xanh tại Việt Nam.

Thu Hương

Đọc thêm

AI và bài toán tăng trưởng của Việt Nam

AI và bài toán tăng trưởng của Việt Nam

(TBTCO) - Trí tuệ nhân tạo (AI) mở ra cơ hội tạo bước nhảy về năng suất, đổi mới mô hình kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng. Song, tác động của AI không đương nhiên là tích cực. Nếu thiếu hạ tầng, dữ liệu, nhân lực và thể chế phù hợp, công nghệ này có thể làm tăng thất nghiệp, bất bình đẳng, rủi ro an ninh và phụ thuộc công nghệ.
Việt Nam tuân thủ nghiêm túc các quy định của ILO, các điều ước quốc tế về lao động

Việt Nam tuân thủ nghiêm túc các quy định của ILO, các điều ước quốc tế về lao động

(TBTCO) - Việt Nam nghiêm cấm mọi hình thức lao động cưỡng bức, tuân thủ nghiêm túc các quy định của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), các điều ước quốc tế và hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên.
Quảng Ninh: Tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp đạt gần 62%

Quảng Ninh: Tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp đạt gần 62%

(TBTCO) - Tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất công nghiệp đã được giao tại Quảng Ninh hiện đạt 61,95%. Kết quả này cho thấy hạ tầng công nghiệp của tỉnh đang phát huy hiệu quả, đồng thời vẫn còn dư địa tiếp nhận các dự án quy mô lớn, công nghệ cao.
Việt Nam chuyển “tầm ngắm” để “lọc” dự án FDI chất lượng

Việt Nam chuyển “tầm ngắm” để “lọc” dự án FDI chất lượng

(TBTCO) - Theo các chuyên gia kinh tế, triển vọng thu hút FDI của Việt Nam vẫn tích cực, nhưng trọng tâm chính sách cần chuyển từ quy mô vốn đăng ký sang chất lượng dự án, mức độ chuyển giao công nghệ và khả năng đưa doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Đầu tư hạ tầng logistics, tăng năng lực cạnh tranh chuỗi cung ứng

Đầu tư hạ tầng logistics, tăng năng lực cạnh tranh chuỗi cung ứng

(TBTCO) - Việt Nam đang đứng trước cơ hội tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và phân phối toàn cầu. Tuy nhiên, để biến cơ hội thành lợi thế cạnh tranh, việc phát triển hạ tầng logistics hiện đại, xanh và số được xem là yêu cầu cấp thiết.
Doanh nghiệp mới tại Gia Lai tăng cả về số lượng và quy mô vốn

Doanh nghiệp mới tại Gia Lai tăng cả về số lượng và quy mô vốn

(TBTCO) - Từ đầu năm đến ngày 22/7, Gia Lai có 2.292 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 35.884 tỷ đồng, tăng khoảng 196% so với cùng kỳ năm 2025. Cùng kỳ, số doanh nghiệp thành lập mới cũng tăng khoảng 36%, đạt 32,74% chỉ tiêu phát triển doanh nghiệp của cả năm.
Đà Nẵng mở không gian kinh tế tầm thấp

Đà Nẵng mở không gian kinh tế tầm thấp

(TBTCO) - Để đón đầu sự phát triển của thị trường kinh tế tầm thấp được dự báo đạt tỷ USD, Đà Nẵng sẵn sàng rót ngân sách, kiến tạo bệ phóng hạ tầng, từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách. Đây là nỗ lực nhằm tạo động lực phát triển mới cho địa phương.
Kinh tế Việt Nam nửa đầu năm 2026: Tăng trưởng cao nhưng dư địa ổn định thu hẹp

Kinh tế Việt Nam nửa đầu năm 2026: Tăng trưởng cao nhưng dư địa ổn định thu hẹp

Sáu tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao, các động lực chính cùng vận hành, sức chống chịu được cải thiện. Tuy nhiên, khi nền kinh tế tăng tốc, các cân đối về lạm phát, tỷ giá và lãi suất trở nên nhạy cảm và bài toán ổn định vĩ mô cũng khó hơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều