Thế nào là quốc hữu hóa ngân hàng?

H.Y (theo WSJ)
Quốc hữu hóa các ngân hàng yếu kém là giải pháp mới đối với Việt Nam, nhưng trên thế giới, đây là biện pháp đã được các chính phủ áp dụng trong một số cuộc khủng hoảng.
aa

Sau khi kế hoạch tái cơ cấu một số ngân hàng yếu kém thông qua sáp nhập, hợp nhất trong năm 2014 không diễn ra như dự định, một giải pháp mới được Ngân hàng Nhà nước đưa ra để xử lý các ngân hàng yếu kém là “quốc hữu hóa” ngân hàng (hay là buộc mua lại với giá 0 đồng).

Mặc dù đây là giải pháp mới đối với Việt Nam và chưa rõ về cách thực hiện, nhưng trên thế giới, đây là biện pháp không xa lạ đã được các chính phủ áp dụng trong một số cuộc khủng hoảng.

bank

Đơn cử như trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, Chính phủ Mỹ đã tiến hành một số vụ quốc hữu hóa ngân hàng.

Hiểu một cách đơn giản nhất, quốc hữu hóa ngân hàng nghĩa là chính phủ nắm quyền kiểm soát các ngân hàng, có thể trả tiền hoặc không. Điều này cũng có nghĩa là nhà nước kiểm soát cổ phiếu, lựa chọn, sắp xếp ban lãnh đạo và chiến lược hoạt động.

Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ năm 2008 đã khiến nhiều ngân hàng ở trong tình trạng “quốc hữu hóa một nửa”, đó là khi các ngân hàng nhận tiền cứu trợ của chính phủ hoặc buộc phải chuyển giao một phần cổ phần cho chính phủ.

Trong cuộc khủng hoảng, Chính phủ Mỹ đã đề xuất chương trình theo đó chính phủ chỉ kiểm soát các ngân hàng lớn nhất, trong một thời gian ngắn, để thúc đẩy thị trường tín dụng. Chính phủ có thể bơm thêm vốn cho ngân hàng nếu cần thiết, nhưng điều quan trọng là sự hiện diện của chính phủ có thể làm yên lòng khách hàng và ngăn chặn dòng tiền rút khỏi ngân hàng.

Tại sao phải quốc hữu hóa ngân hàng?

Ở các nước phương Tây, quốc hữu hóa ngân hàng chủ yếu được coi là biện pháp khẩn cấp để giữ ổn định cho ngân hàng trong thời gian khó khăn. Nó bao gồm tiếp tục cho vay các DN vừa và nhỏ và cơ cấu lại nợ xấu, đồng thời giúp các ngân hàng tránh mất thanh khoản tạm thời.

Những người ủng hộ quốc hữu hóa ngân hàng cho rằng, nên áp dụng biện pháp này vì các giải pháp của chính phủ với khủng hoảng tài chính không hiệu quả, ngay cả khi bơm tiền vào các chương trình cứu trợ cũng không có dấu hiệu cải thiện rõ rệt sức khỏe ngân hàng, niềm tin công chúng hay tăng trưởng cho vay. Nhiều ngân hàng nhận tiền của chính phủ nhưng dùng sai mục đích.

Chi phí quốc hữu hóa ngân hàng

Tùy từng quốc gia và cách thức quốc hữu hóa, nhưng trong trường hợp ở Mỹ, các chuyên gia tính toán cứ mỗi khoản trợ cấp 100 tỷ USD của chính phủ cho ngân hàng tương đương khoản đóng góp 1.000 USD của mỗi người đóng thuế tại Mỹ.

Phần lớn các chuyên gia cho rằng quốc hữu hóa chỉ là biện pháp tạm thời, bởi tính hiệu quả của nó chưa rõ ràng. Nhìn chung trên thế giới, các ngân hàng chịu sự quản lý của nhà nước vì 2 lý do: vì cơ chế quản lý, kiểm soát kinh doanh như ở Trung Quốc, Nga, Bắc Phi, Nam Phi…, hoặc bởi một cuộc khủng hoảng trầm trọng khiến Chính phủ phải hành động, như trong các trường hợp ở Thụy Điển và Indonesia những năm 1990, ở Anh và Scotland năm 2008. Pháp đã từng quốc hữu hóa lĩnh vực ngân hàng, sau đó lại tư nhân hóa bằng cách bán cho các cá nhân, và có thể sẽ lại quốc hữu hóa khi tình hình xấu đi.

Ở Mỹ, rất ít ngân hàng được quốc hữu hóa hoàn toàn, mặc dù có nhiều trường hợp chính phủ quốc hữu hóa một ngân hàng yếu kém để bán tài sản hoặc giảm bớt hoạt động. Trong cuộc khủng hoảng tín dụng những năm 1990, chính phủ kiểm soát hàng trăm ngân hàng trong một đến hai năm, lập giám đốc điều hành và ban lãnh đạo mới, thúc đẩy xử lý tài sản. Một số ngân hàng bị quốc hữu hóa và sau đó bán lại cho các công ty tư nhân.

Những trường hợp như vậy đem lại lợi nhuận cho Chính phủ, nhưng đó không phải là mục đích quốc hữu hóa, mà là để ngăn chặn sự đổ vỡ của ngân hàng. Quốc hữu hóa thường gây giảm giá trị của ngân hàng do mất khách hàng, mặc dù tác động này nhỏ hơn nhiều nếu cả ngân hàng phá sản.

Nhược điểm của quốc hữu hóa ngân hàng

Tại Mỹ, vấn đề khi cứu trợ các ngân hàng là chính phủ không thể tham gia kiểm soát toàn bộ các ngân hàng mà chỉ một số các ngân hàng quan trọng. Như vậy là quốc hữu hóa cũng không thể giải quyết toàn bộ vấn đề của nhóm ngân hàng yếu kém.

Người tiêu dùng có tiền gửi ở các ngân hàng vẫn phải trông chờ vào Công ty Bảo hiểm tiền gửi trong trường hợp ngân hàng phá sản. Nếu một ngân hàng quan trọng phá sản, có thể gây phản ứng dây chuyền khiến hàng trăm triệu đô la bốc hơi. Ngoài ra, còn có nhiều ý kiến tranh cãi về mục đích của việc quốc hữu hóa ngân hàng.

Quốc hữu hóa ngân hàng có chấm dứt khủng hoảng?

Một số chuyên gia cho rằng, nên chấm dứt khủng hoảng tín dụng bằng cách quốc hữu hóa ngân hàng, nhưng một số khác cho rằng vấn đề của ngân hàng là họ cho vay quá nhiều, nợ xấu quá cao, quốc hữu hóa không giải quyết được những vấn đề này trừ khi chính phủ lại tạo ra một “siêu quỹ” hay một “ngân hàng nợ xấu” để gom tất cả tài sản xấu về và xóa khỏi sổ sách.

Những người phản đối cũng cho rằng quốc hữu hóa có thể khiến khách hàng rời bỏ ngân hàng, khiến chính phủ phải chi nhiều tiền hơn và gây ảnh hưởng đến hoạt động của cả hệ thống./.

H.Y (theo WSJ)

H.Y (theo WSJ)

Đọc thêm

MIC 360: Đột phá giải pháp bảo hiểm “quốc dân”, bảo vệ toàn diện hộ kinh doanh và gia đình Việt

MIC 360: Đột phá giải pháp bảo hiểm “quốc dân”, bảo vệ toàn diện hộ kinh doanh và gia đình Việt

(TBTCO) - Trong bối cảnh rủi ro thiên tai và biến cố sức khỏe ngày càng phức tạp, Bảo hiểm Quân đội (MIC) chính thức ra mắt bộ sản phẩm MIC 360. Với mức phí chỉ từ 100.000 đồng/năm cùng quy trình bồi thường online “không hóa đơn”, sản phẩm được kỳ vọng sẽ thay đổi định kiến về bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam.
Sun Life Việt Nam ra mắt Bảo hiểm hưu trí Sun Life, giúp doanh nghiệp kiến tạo phúc lợi dài hạn trong cuộc đua giữ chân nhân tài

Sun Life Việt Nam ra mắt Bảo hiểm hưu trí Sun Life, giúp doanh nghiệp kiến tạo phúc lợi dài hạn trong cuộc đua giữ chân nhân tài

(TBTCO) - Với nhiều năm kinh nghiệm trong việc cung cấp các giải pháp hưu trí trên thị trường, Sun Life Việt Nam tiếp tục cho ra mắt sản phẩm Bảo hiểm hưu trí Sun Life - giải pháp phúc lợi hưu trí mới với nhiều quyền lợi được cải tiến nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng chính sách phúc lợi dài hạn của doanh nghiệp. Sản phẩm còn hỗ trợ người lao động chủ động bảo vệ rủi ro trong thời gian làm việc, đồng thời tích lũy tài chính vững vàng cho giai đoạn nghỉ hưu.
Hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm

Hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm

(TBTCO) - Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 928/QĐ-TTg ngày 25/5/2026, với mục tiêu hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm, góp phần nâng cao đời sống của người dân, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.
Tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn

Tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn

(TBTCO) - Nhóm phân tích của VPBankS cho rằng, tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) sử dụng thay thế cho tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn là chỉ tiêu đánh giá toàn diện và nhạy cảm với rủi ro hơn, đồng thời khuyến khích các ngân hàng từng bước kéo dài kỳ hạn huy động, tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn.
Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

(TBTCO) - Tín dụng kinh doanh bất động sản quý đầu năm đang dần giảm nhiệt khi nhiều ngân hàng chủ động hãm đà cho vay dưới áp lực siết room tín dụng, thậm chí đã có 3 nhà băng ghi nhận dư nợ giảm so với đầu năm. Tuy nhiên, việc giảm phụ thuộc vào lĩnh vực này vẫn không dễ, khi dư nợ bất động sản tại nhiều ngân hàng tiếp tục tăng nhanh hơn dư nợ cho vay khách hàng.
Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

(TBTCO) - Ngày 25/5/2026, Công ty cổ phần Vinhomes chính thức triển khai chương trình hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản, góp phần đưa nguồn vàng nhàn rỗi đang tích trữ trong dân trở thành dòng vốn năng động phục vụ tăng trưởng. Chương trình được triển khai trong 5 năm, với sự đồng hành của các công ty vàng bạc đá quý nhằm bảo đảm an toàn tối đa về quyền lợi và giá trị tài sản cho khách hàng.
Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

(TBTCO) - Sự nhập cuộc ngày càng mạnh mẽ của các ngân hàng đang khiến thị trường bảo hiểm phi nhân thọ bước vào một giai đoạn cạnh tranh mới. Khi nhóm doanh nghiệp gắn với ngân hàng đã nắm khoảng 35% thị phần, “ván cờ” thị phần trở nên khó đoán hơn, kéo theo những tính toán chiến lược mới của doanh nghiệp hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

(TBTCO) - Mở cửa phiên ngày 25/5, giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn. Ở phân khúc vàng miếng, Bảo Tín Mạnh Hải, PNJ, DOJI, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý và Bảo Tín Minh Châu đồng loạt tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, mặt bằng giá giao dịch ở quanh mức 159 - 162 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Kim TT/AVPL 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 14,850 ▼50K 15,050 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 14,800 ▼50K 15,000 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,600 ▼50K 16,000 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,550 ▼50K 15,950 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,480 ▼50K 15,930 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Hà Nội - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Miền Tây - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
NL 99.90 14,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,500
Trang sức 99.9 15,340 ▼50K 16,040 ▼50K
Trang sức 99.99 15,350 ▼50K 16,050 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,585 ▲1426K 16,152 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,585 ▲1426K 16,153 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 158 ▼1427K 161 ▼1454K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 158 ▼1427K 1,611 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 156 ▼1409K 1,595 ▲1435K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,421 ▼495K 157,921 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 110,887 ▼375K 119,787 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 99,721 ▼340K 108,621 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 88,555 ▲79669K 97,455 ▲87679K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,248 ▼291K 93,148 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,768 ▼209K 66,668 ▼209K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Cập nhật: 26/05/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18335 18611 19184
CAD 18554 18831 19447
CHF 32936 33321 33961
CNY 0 3842 3934
EUR 30037 30310 31335
GBP 34712 35105 36031
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15086 15671
SGD 20071 20354 20882
THB 722 785 839
USD (1,2) 26079 0 0
USD (5,10,20) 26120 0 0
USD (50,100) 26148 26163 26394
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,164 26,164 26,394
USD(1-2-5) 25,118 - -
USD(10-20) 25,118 - -
EUR 30,223 30,247 31,506
JPY 161.52 161.81 170.6
GBP 34,965 35,060 36,073
AUD 18,580 18,647 19,241
CAD 18,773 18,833 19,415
CHF 33,263 33,366 34,144
SGD 20,256 20,319 20,998
CNY - 3,821 3,944
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.21 16.9 18.27
THB 773.13 782.68 833.14
NZD 15,120 15,260 15,624
SEK - 2,791 2,872
DKK - 4,044 4,163
NOK - 2,798 2,885
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,226.83 - 6,990.8
TWD 757.96 - 912.92
SAR - 6,922.12 7,248.72
KWD - 83,835 88,684
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,144 26,164 26,394
EUR 30,109 30,230 31,409
GBP 34,938 35,078 36,087
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,062 33,195 34,131
JPY 161.90 162.55 169.87
AUD 18,546 18,620 19,210
SGD 20,284 20,365 20,947
THB 790 793 828
CAD 18,747 18,822 19,390
NZD 15,196 15,729
KRW 16.75 18.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26190 26190 26394
AUD 18518 18618 19541
CAD 18735 18835 19849
CHF 33185 33215 34794
CNY 3822 3847 3982.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30211 30241 31966
GBP 34997 35047 36818
HKD 0 3355 0
JPY 161.96 162.46 173
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15194 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20228 20358 21086
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15850000 15850000 16150000
SBJ 14000000 14000000 16150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,178 26,228 26,394
USD20 26,178 26,228 26,394
USD1 26,178 26,228 26,394
AUD 18,565 18,665 19,775
EUR 30,348 30,348 31,754
CAD 18,676 18,776 20,081
SGD 20,312 20,462 21,027
JPY 162.51 164.01 170
GBP 34,885 35,235 36,097
XAU 15,848,000 0 16,152,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/05/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80